Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách tạo động lực cho cán bộ công chức. Chương 2: Thực trạng chính sách tạo động lực làm việc cho cán bộ công. chức tại UBND huyện Kon Rẫy. Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tạo động lực cho cán bộ công chức tại UBND huyện Kon Rẫy.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu. Các nghiên cứu trong nước Luận văn thạc sĩ của Trương Ngọc Hùng (2012) “Giái pháp rạo động lực cho cán bộ, công chức xã, phường thành phố Đà Nẵng”. Công trình nghiên cứu đã phân tích và đánh giá thực trạng tạo động lực làm việc cho CBCC tại một số xã, phường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Đề tài góp phẫn xây dựng và hoàn thiện chính sách về giải pháp tạo động lực làm việc nhằm giúp CBCC yên tâm làm việc, phát huy trí tuệ để đạt hiệu quả cao và nâng cao năng lực của chính quyền cơ sở, thúc đẩy kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng phát triển Nghiên cứu của Hoàng Thị Hồng Lộc và Nguyễn Quốc Nghỉ (2014) “Xây dựng khung lý thuyết về động lực làm việc ở khu vực công tại Việt Nam”.
Bai viết này được thực hiện nhằm xây dựng một khung lý thuyết phục. vụ cho mục đích nghiên cứu các nhân tố chính ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên ở khu vực công (cán bộ, công chức, viên chức) tại Việt Nam. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích — tổng hợp nhằm. thừa kế những phát hiện có giá trị từ các nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước.
Khung lý thuyết do tác giả đề xuất dựa trên mô hình gốc Tháp nhu cầu của Maslow (1943) và mô hình Tháp nhu cầu của người Trung Quốc do Nevis đề xuất năm 1983, nhưng đã có sự điều chỉnh, bổ sung cho phủ hợp với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức tại Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu này còn thể hiện sự cân nhắc kỹ lưỡng đến các đặc trưng của một nền văn hóa tập thê và bối cảnh kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Phương Lan (2015) * /foàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức ở các cơ quan hành chính nhà nước”. Công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa một cách cơ bản lý luận về động lực, tạo động lực cho người lao động, những học thuyết cơ bản về động lực và tạo động lực; phân tích các học thuyết tạo động lực theo phân loại học thuyết nội dung, học thuyết công cụ và học thuyết quá trình với từng nhóm.
tác giả tiêu biểu để thấy được ưu và nhược điểm của từng loại học thuyết. Công trình nghiên cứu có những đóng góp tiếp theo về mặt lý luận để làm sáng tỏ nhiều điểm khác biệt về động lực và các yếu tố tạo động lực cho cán bộ, công chức hành chính nhà nước so với người lao động ở khu vực ngoài nhà nước. Đề tài đã làm tốt vấn đề xây dựng khung lý thuyết hoàn thiện hên thống công cụ tạo động lực cho CBCC hành chính nhà nước theo phương, pháp tiếp cân hệ thống, góp phần đề xuất được các giải pháp tổng thể và cụ thé để hoàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức hành chính nhà nước theo phương pháp tiếp cận hệ thống. Các nghiên cứu nước ngoài Buelens & Van đen Broeck (2007) đã triển khai nghiên cứu “Phân (ích sự khác biệt trong động lực làm việc giữa những tô chức ở khu vực công và khu vực wr”.
Nghiên cứu đã thành công trong việc so sánh sự khác biệt về động lực làm việc của CBCC ở khu vực công so với người lao động ở khu vực ngoài nhà nước. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra được sự khác biệt về yếu tố tạo động lực làm việc đối với phụ nữ và nam giới. Kết quả phân tích còn cho thấy độ tuôi lao động cũng ảnh hưởng đến khả năng gắn bó của người lao động với tô chức, những người lao động ít tuôi có xu hướng rời bỏ tô chức nhiều hơn. Đồng thời, cấp bậc quản lý được xem là nhân tố đặc biệt quan trọng trong việc giải thích số giờ làm việc và sự cam kết đối với công việc.
Nghiên cứu của Re'em (2010) “7qo động lực thúc đẩy nhân viên ở khu vực công: các công cụ ứng dụng trong thực tiễn ". Thành công lớn nhất của. nghiên cứu này là đã tìm ra các nhân tố và các chiến thuật tạo động lực hữu hiệu giúp nhà quản lý khu vực công tạo ra nhiều động lực làm việc hơn cho CBCC. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp theo hướng.
ứng dụng và phương pháp phỏng vấn trực tiếp các nhà quản lý ở khu vực công, sau đó dựa trên kinh nghiệm thực tế của chính tác giả để đề xuất các chiến thuật thích hợp cho khu vực công. Nghiên cứu của Denibutun (2012) “Động lực làm việc: khung lý thuyết”. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khám phá sự khác nhau giữa các lý thuyết về động lực làm việc và xem xét động lực như một quá trình tâm lý cơ bản của con người. Kết quả của cuộc nghiên cứu chính là hệ thống các lý thuyết về động lực, lý thuyết này có tác dụng trong việc giải thích hành vi của người lao động trong một thời điểm nhất định.
Thông qua tổng quan tài liệu nghiên cứu trên, có thé rút ra một số nhận XÉt Tùy theo hướng tiếp cận khác nhau, nghiên cứu của các nhà khoa học ở, trong và ngoài nước đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định, khó có thể nói áp dụng hoàn toàn một khung lý thuyết sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất cho công tác tạo động lực trong tổ chức. Các nghiên cứu tiên phong hướng. đến mục tiêu sử dụng lý thuyết hệ thống trong công tác quản trị nhân sự của các tác giả trong hay ngoài nước đã mở ra cơ hội để quản lý tốt hơn, hiệu quả hơn nguồn nhân lực trong tô chức, khai thác tối đa tiềm năng của con người vào sự phát triển chung của tô chức. Tính đến nay, việc sử dụng đồng bộ, có hiệu quả hệ thống công cụ tạo động lực làm việc trong các cơ quan hành chính còn hạn chế, nhất là cấp độ địa phương tai UBND huyện Kon Ray.
Có thể thấy, đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu, hội thảo, các bài viết khác nhau về việc tạo động lực làm việc cho cán bộ công chức trong tổ chức công. Song đối với UBND huyện Kon Rẫy nói riêng, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề tạo động lực làm việc cho CBCC tại đơn vị. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ DONG LỰC, TẠO DONG LUC LAM VIỆC CHO CÁN BỘ CÔNG CHỨC 1. MỘT SÓ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CÓ LIÊN QUAN 1.
Khái niệm cán bộ, công chức Các nước khác nhau thì khái niệm về cán bộ, công chức cũng khác nhau, đa số các nước đều giới hạn cán bộ công chức trong phạm vi bộ máy hành chính nhà nước (Chính phủ và cấp chính quyền địa phương). Ở nước ta, phù hợp với thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước, Đảng, đoàn thể, chúng ta dùng khái niệm "cán bộ, công chức”. Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ởtrung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. (Luật cán bộ công chức, 2008) Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm và ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cắp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc.
Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỷ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. (Luật án bộ công chức,. Khái niệm về động lực và tạo động lực lao động, a. Khái niệm về động lực Trong mọi thời đại, nguồn nhân lực là tài sản quý giá nhất của bắt kỳ tổ chức nào tồn tại nhằm tạo ra giá trị cho xã hội.
Do đó, vấn đề làm thế nào để khai thác hết nguồn lực của người lao động là một vấn đề đáng được quan tâm hàng đầu. Một trong những biện pháp đề thực hiện điều đó là tìm cách để khơi dậy ý chí làm việc cao độ, tỉnh thần trách nhiệm và nhiệt huyết trong công việc của người lao động. Hay nói cách khác, người lãnh đạo bằng các ky năng, kinh nghiệm và kiến thức của bản thân, cần có các biện pháp tạo động. lực đúng đắn, kịp thời nhằm khai thác tối đa hiệu quả lao động của nguồn nhân lực Có nhiều những quan niệm khác nhau vẻ tạo động lực trong lao động nhưng đều có những điểm chung cơ bản nhất Theo giáo trình Quản ứ‡ nhân lực của Nguyễn Vân Điềm - Nguyễn Ngọc Quân: “Đông lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao đông để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết qua nao do” Theo giáo trinh Hanh vi t6 chic ciia Bai Anh Tuấn: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Suy cho cùng động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải lam sao tạo ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tô chức.