Chương 1: Tổng quan kiểm soát nội bộ thu, chỉ trong cơ sở giáo dục. đại học Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ thu, chỉ tại Trường Cao đẳng. Phuong Đông Đà Nẵng. Chương 3: Giải pháp tăng cường kiểm soát nội bộ thu, chỉ tại Trường ‘Cao ding Phuong Đông Đà Nẵng.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu. Các nhà quản lý doanh nghiệp ngày nay quan tâm nhiều hơn đến quản lý rủi ro và KSNB cho doanh nghiệp mình nhằm giúp cho doanh nghiệp tránh. được các rủi ro ngoài mong muốn, giảm thiệt hại và mang lại danh tiếng cho. doanh nghiệp, đảm bảo việc tuân thủ các qui định, chính sách và các thủ tục nội bộ, góp phần duy trì báo cáo tài chính đáng tin cậy.
Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu để kiểm soát được các mục tiêu đề ra là yêu cầu tất yếu khách qua đối với mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trên thể giới, khái niệm KSNB đã ra đời từ thể kỷ 19, được bổ sung hoàn thiện nhằm phá hiện và ngăn chặn những gian lân, sai sót của một tổ chức từ các công ty kiểm toan, cơ quan chức năng. KSNB được phát triển thành hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh thông qua Báo cáoCOSO năm. Tiếp tục phát triển Báo cáo năm 1992, năm 2004 COSO chinh thuc ban.
hành hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM - Enterprise Risk Management Framework). Báo cáo năm 2004 được xây dựng trên cơ sở phát triển Báo cáo năm 1992 và tích hợp rủi ro tại các đơn vị. 2004 xác định được những tiêu chuẩn làm cơ sở để đánh giá rủi ro cũng như. đề xuất xây dựng chu trình quản lý rủi ro hiệu quả trong công tác quản lý.
Ở Việt nam, kiểm soát nội bộ đã tổn tại và phát triển nhưng phần lớn còn tồn tại nhiều yếu kém, chưa phát huy hết vai trò công cụ quản lý của doanh nghiệp 'Về lý luận, tác giả nghiên cứu giáo trình Kiểm soát nội bộ do Bộ môn. Kế toán — Kiểm toán Trường Đại học kinh tế Hồ Chí Minh biên soạn, giáo trình đã trình bày một cách có hệ thống về KSNB trong doanh nghiệp. Từ đó, tác giả đã liên hệ với những đặc thù của cơ sở giáo dục đại học dé van dụng lý luận về KSNB cho phủ hợp. 'Qua quá trình tìm hiểu, tác giả được biết đến thời điểm này có nhiều đề tài nghiên cứu về công tác thu, chỉ tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục như: Luận văn Thạc sĩ của Tác giả Mai Thị Lợi (2008) với đề tài: “Tăng.
cường kiểm soát nội bộ thu ~ chỉ ngân sách Nhà nước tại Trường Cao đẳng Công nghệ - Đại học Ba Nẵng ”. Đề tài đã phân tích, đánh giá về hoạt động, kiếm soát nội bộ thu, chỉ ngân sách Nhà nước tại Trường Cao đẳng Công, nghệ - Đại học Đà Nẵng và đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát nội bộ hoạt động thụ, chỉ ngân sách Nhà nước tại Trường. Những đề xuất này, Tác giả tập trung chuyên sâu vào kiểm soát nội bộ thu, chỉ ngân sách nha nước. Luận văn Thạc sĩ của Tác giả Trần Thị Tài (2010) với để tài: “7ăng cường kiểm soát nội bộ thu, chỉ ngân sách tại Trường Đại học Quảng Nam ”.
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, quan sát, phân tích, so sánh, tổng. hợp từ đó đánh giá công tác kiểm soát nội bộ các khoản thu, chỉ tại ngân sách tại Trường Đại học Quảng Nam, ra những tồn tại trong công tác thu, chỉ từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này. Luận văn Thạc sĩ của Tác giả Đoàn Ngọc Quang Minh (2013) với đề tài: “Tang cường kiểm soát nội bộ công tác thu, chỉ tại Trung tâm Đào tạo thường xuyên ~ Đại học Đà Nẵng”. Với quy mô hoạt động rộng, hoạt động, 19 tỉnh thành với 24 đơn vị liên kết, Tác giả đã sử dụng phương pháp thu thập thông tin, quan sát, nghiên cứu tải liệu dé khảo sát thực trạng KSNB các khoản thu, chi tai Trung tâm Đào tạo thường xuyên - Đại học Đà Nẵng, đi sâu để làm rõ những hạn chế trong việc kiểm soát thu, chỉ tại các đơn vị liên kết nhằm giảm rủi ro trong việc thu chậm, thu thiểu cũng như hoàn thiên qui trình ch tiền cho các khoản chỉ chủ yếu tại Trung tâm.
Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu các vấn đề: Thực trạng KSNB thu, chỉ ngân sách tại đơn vị, nhận thấy những mặt tồn tại của đơn vị, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện. Tuy nhiên, các giải pháp về KSNB. thu, chỉ của các công trình này là mang tính đề xuất chung cho các đơn vị sự. nghiệp giáo dục có thụ, có sử dụng NSNN.
“Trường Cao đẳng Phương Đông Đà Nẵng là một trường tư thục, 100% tự túc kinh phí hoạt đông và đã trái qua hơn 15 năm hình thành và phát triển. Với đặc điểm quản lý tài chính khác với các cơ sở giáo dục đại học có sử dụng ngân sách nhà nước. Đồng thời, tắt cả mọi hoạt động của nhà trường đều phụ thuộc vào nguồn thu, do vậy việc kiểm soát thu, chỉ của nhà trường rất ‘quan trong trong việc đảm bảo cho hoạt động của Trường. Vì vậy, Tác giả đã thực hiện đề tài: “Zăng cường kiếm soát nội bộ thu, chỉ tại Trường Cao đẳng.
Phương Đông Đà Nẵng", luận sẽ tập trung nghiên cứu, khảo sát thực trạng thu, chỉ tại Trường, tìm ra những tồn tại, hạn chế mà Trường đang gặp tìm ra những tồn tại, hạn chế nhằm góp phần tăng cường công tác kiểm soát nội bộ. thu, chi tai Trường CHUONG 1 TONG QUAN KIEM SOAT NOI BQ THU, CHI TRONG CO SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. LÝ LUẬN CHUNG VE KIEM SOAT NOI BOQ 1. Những vấn đề quan tâm.
fia nha quan ly Nếu bạn là nhà quản lý doanh nghiệp thì ban sẽ làm gì để công ty của bạn có thể tồn tại và phát triển theo hướng bền vững khi mà nên kinh tế của. nước nhà mở rộng cửa và ngày cảng có nhiều đối thủ trong và ngoài nước ? Trước khi đi vào các công cụ để giúp quản lý công ty một cách hiệu quả nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và giữ được vị thế của công ty, ta đề cập những. vấn đề mà các nhà quản lý doanh nghiệp thường quan tâm, đó là: ~ Thứ nhất: Các báo cáo,. do các bộ phận trình lên Ban giám đốc có thật sự là trung thực không, có đáng tin cây không ? Vì xét trên giác độ là người quản lý thì thông tìn trên các báo cáo bao gồm BCTC, BCQT, là những, thông tin, dữ liệu cơ sở giúp các nhà quản lý có thể xây dựng các kế hoạch tốt, vạch ra mục tiêu công ty rõ rằng từ đó điều hành và quản lý mọi hoạt động đểtiến đến mục tiêu đã đẻ ra.
~ Thứ hai: Trong quả trình điều hành và quản sác nhà quản lý phải đảm bảo rằng là tài sản của công ty hay của các cổ đông không bị tức là phải bảo vệ được tải sản của công ty. ~ Thứ bạ: Trong các hoạt động của công ty, nhà quản lý phải đảm bảo rằng nhân viên của mình thực hiện các hoạt động xử lý các nghiệp vụ, các sự. kiện kinh tế là đúng theo quy trình, đầy đủ và đúng các thủ tục,. là tuân thủ các quy định của công ty và thực hiện đúng pháp luật của nước.
Từ các vấn đẻ đã nêu ra cho thấy các nhà quản lý phải nghĩ ra một cách. hay phương pháp quản lý như thể nào để có thể đảm bảo được ba nội dung đã nêu ở trên. Việc tiến hành xây dựng được một hệ thống kiểm soát nội bộ. chính là một trong những công cụ sẽ giúp nhà quản lý thực hiện được những vấn đề đó.
Khái niệm về kiểm soát nội bộ. Kiểm soát nội bộ là một tiền trình được thực hiện bởi HĐQT, ban quản lý và các nhân sự liên quan, được thiế kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu: ~ Sự hiệu quả và hiệu suất của hoạt động. - Sự tỉn cây của các báo cáo tài chính. ~ Sự tuân thủ vị các luật và các quy định liên quan.
Kiểm soát nội bộ là một quá trình, chứ không phải là một sự kiện hay một tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện ở mọi bộ phận trong. đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Kiểm soát nội bộ tỏ ra hữu hiệu nhất khi nó được xây dựng như một phần cơ bản nhất trong một doanh nghiệp chứ không phải là một hoạt động bổ sung cho các hoạt động của doanh nghiệp hoặc là một gánh nặng bị áp đặt bởi các cơ quan quản lý hay thủ tục hành chính. Quá trình kiểm soát là một phương tiện giúp cho các đơn vị đạt được mục tiêu Kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là những chính sách thủ tục,.
mà phải bao gồm cả những con người trong Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhân viên. Chính con người thiết lập các mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng. Ngược lại, kiểm soát nội bộ cũng tác động, đến hành vi của con người. Mọi cá nhân có một khả năng, suy nghĩ tu tiên khác nhau khi làm việc và họ luôn luôn hiễu rõ nhiệm vụ cũng như trao đổi và hành động một cách nhất quán.
Kiểm soát nội bộ sẽ tạo ra ý kiến ở mỗi cá nhân và hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của tổ chức. 'Kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cắp một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải đảm bảo tuyệt đối trong việc đạt được các mục tiêu của đơn vị. liên quan đến các hạn chế vốn có của hệ thống kiểm soát nội bộ. này bao gồm: sai sót của con người, sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền cả nhà quản lý và mỗi quan hệ giữa lợi ích và chí phí.
Sai sót là những lỗi không cố ý ảnh hưởng đến thông tin trên báo cáo. tài chính. Các sai sót xây ra do ba nguyên nhân chủ yếu sau: năng lực của nhân viên, áp lực công việc và quy trình xử lý nghiệp vụ kém, thiểu kinh nghiệm, không quan tâm đến các chỉ dẫn trong công tác, thiếu khả năng xét đoán hay không tuân thủ các quy định. Sai sót cũng có thể xảy ra do mệt mỗi với công việc.
Ngoài ra một thái độ làm việc cầu thả, thiểu thận trọng trong. công việc có thể dẫn đến sai sót.