Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý công tác phối hợp đảo tạo ngành Điều dưỡng ở trường cao đẳng. Chương 2: Thực trạng quản lý công tác phối hợp với các cơ sở y tế địa phương trong hoạt động đào tạo ngành Điều dưỡng ở trường cao đẳng Phương Đông, Đà Nẵng. Chương 3: Biện pháp quản lý công tác phối hợp với các cơ sở y tế địa phương trong hoạt động đào tạo ngành Điều dường ở trường cao đẳng Phương Đông, Đà Nẵng 7. Téng quan tài liệu nghiên cứu Hiện nay chưa tìm thấy đề tài nào nghiên cứu về CTPH giữa trường- viện trong hoạt động đào tạo ngành Điều dưỡng.
Tuy nhiên có một số luận văn thạc sĩ của một số tác giả trong nước nghiên cứu về quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở một số trường Đại học, Cao đẳng với các doanh nghiệp, cơ sở tuyển dụng như đề tài “Quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa trường cao đẳng Nghề cơ điện luyện kim Thái nguyên với doanh nghiệp ”, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Giáo dục năm 2009 của tác giả Đỗ Đình Trường. Ngoài ra luận văn tham khảo Quyết định số 42/2008/QĐ- BGDĐT (2008), Quy định về liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao ding, đại học, ngày 28 tháng 7 năm 2008 và Thông tư 09/2008/TT-BYT, Hướng dẫn việc phối hợp. giữa các cơ sở đào tạo cán bộ y tế với các bệnh viện thực hành trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, ngày 01 tháng 08 năm 2008 của Bộ Y Tế (2008) Nhằm tăng hiệu quả CTPH đào tạo ngành Điều dưỡng của trường CĐPĐ ĐN, tác giả của luận văn nghiên cứu thực trạng và đề ra các biện pháp quản lý CTPH với cơ sở y tế trong đào tạo ngành Điều dưỡng phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN CUA QUAN LY CONG TAC PHÓI HỢP VOI CAC CO SO Y TE TRONG HOAT DONG DAO TAO NGANH DIEU DUONG O TRUONG CAO DANG 1.
TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nhiều nước tiên tiến trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng hoạt động phối hợp đào tạo giữa các trường dạy nghề và doanh nghiệp, thực tế cho thấy hoạt động này đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho cả phía nhà trường và doanh nghiệp. Đối với các trường thì sản phâm là học sinh tốt nghiệp ra trường có tay nghề cao, tiếp cận được với công nghệ thực tiễn của sản xuất. Đây là yếu tố quan trọng để giữ vững thương hiệu, uy tín của nhà trường đồng thời giảm chỉ phí đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo. Đối với các doanh nghiệp có thể chủ động về đội ngũ lao động và khi tiếp nhận lao động vào doanh nghiệp không mắt thời gian đào tạo lại do công nhân còn hạn chế về kỹ năng thực hành nghề và khả năng thích ứng với sự thay đổi của công nghệ.
Công tác đào tạo nghề ở Nga đã có truyền thống từ lâu đời là đào tạo tại xí nghiệp. Tháng 7 năm 1920 Lê Nin đã ký sắc lệnh” về chế độ học tập kỹ thuật-nghề nghiệ| °. sắc lệnh này bắt buộc đối với mọi người từ 18 đến 40 tuổi. Việc đào tạo rất đa dạng đó là dạy nghề cạnh xí nghiệp và trường dạy nghề.
Các trường dạy nghề và trường cạnh xí nghiệp với thời gian học tập khác nhau: 2 năm đảo tạo công nhân bậc 3 và 4; 2 năm rưỡi và 3 năm đào tạo. công nhân bậc 5 và 6; 3 năm và 4 năm đảo tạo công nhân lành nghề bậc cao. ~ Giai đoạn!: Đào tạo lý thuyết và thực hành cơ bản tại cơ sở đào tạo của xí nghiệp. - Giai đoạn 2: Đào tạo thực hành tại vị trí làm việc dưới sự hướng dẫn của thợ cả hoặc giáo viên (GV) hướng dẫn tại cơ sở thực hành.
Ở một số quốc gia phát triển như Đức thì các trường không những liên kết với doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo mà các trường còn trực thuộc trong doanh nghiệp. Theo thống kê có khoảng 93,3 % các công ty sở hữu trường dạy nghề riêng và phát triển chiến lược nhân sự trong tương lai thông. qua các mô hình dạy nghề này. Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, đồng thời là nhà giáo dục lớn của dân tộc.
Người đã để lại cho chúng ta nhiều quan điểm giáo dục (GD) có giá trị, trong đó quan điểm “Học đi đôi với hành” là cơ sở khoa học, phương pháp luận biện chứng và là quy luật của sự phát triển toàn điện nhân cách con người, phát triển nền GD Việt Nam hiện đại trong tương lai Ở nước ta, Đảng và Nhà nước coi GD là “Quốc sách hàng đầu”, toàn xã hội đều có ý thức chăm lo cho sự nghiệp GD, đặc biệt là GD chuyên nghiệp. Trong luật GD 2005 đã chỉ rõ mục tiêu của GD chuyên nghiệp là: "Đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau. Có đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, có tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cũng có quốc phòng an ninh". Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH — HĐH) đất nước, đặc biệt là những năm gần đây, do sự chuyên biến của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường.
Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nên kinh tế tri thức tương lai, giá trị của sức lao động. tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động. Để nâng cao được chất lượng đào tạo nghề, đòi hỏi người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững kỹ năng thực hành nghề đáp ứng yêu 10 cầu của xã hội, của các doanh nghiệp. Xuất phát từ những lý do trên mà hoạt động phối hợp đào tạo giữa các trường và doanh nghiệp đã được nghiên cứu, rút kinh nghiệm từ các nước tiên tiến trên thế giới và được vận dụng vào các chính sách của Việt Nam.
Điều này được cụ thể hoá trong Luật GD năm 2005, Quy chế trường nghề nhà nước năm 1993, Điều lệ trường cao đăng nghề năm 2007. Cụ thể: Điều 36 Luật giáo dục năm 2005 quy định “Cơ sở dạy nghề có thể được tổ chức độc lập hoặc gắn với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ “Điều 9 Quy chế trường nghề nhà nước năm 1993 quy định “Quá trình giáo dục đào tạo phải quán triệt nguyên lý học đi đôi với hành, phối hợp với lao động sản xuất, nhà trường, gắn liền với gia đình và xã hội. Thực hiện Chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá công tác dạy nghề nên ở Việt Nam trong những năm qua đã và đang hình thành nhiều mô hình phối hợp trong đào tạo nghề nói chung với các doanh nghiệp theo. quyết định số 42/2008/QĐ-BGD ĐT của Bộ GD & ĐT về liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học [4] và các cơ sở đào tạo các bộ Y tế với các bệnh viện thực hành theo thông tư số 09/2008/TT-BYT về hướng dẫn việc phối hợp giữa các cơ sở đào tạo cán bộ y tế với các bệnh viện thực hành [6].
Việc hình thành và phát triển các trường đảo tạo nghề thuộc doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật trực tiếp sản xuất của doanh nghiệp và nhu cầu của xã hội ở nước ta trong thời Mặc dù có chủ trương, chính sách như vậy song ở nước ta cho đến nay thực trạng hoạt động liên kết đào tạo giữa các trường và doanh nghiệp, pl hợp giữa trường và viện được đánh giá là chưa cao, chưa đồng bộ và có rất ít các công trình nghiên cứu về vấn đề trên. Những nghiên cứu về liên kết đào. tạo mới chỉ giới hạn trong ngành hoặc trong lĩnh vực hẹp, " Trường CĐPĐ ĐN được thành lập từ năm 1998 thuộc Bộ GD & ĐT. Trường có nhiệm vụ đảo tạo nguồn nhân lực phục vụ không những chỉ cho.
TPDN ma còn cho khu vực Miền trung Tây nguyên, Trường đào tạo nhiều nhóm ngành nghề như nhân văn xã hội, kinh tế kỹ thuật và đặc biệt là khối ngành chăm sóc sức khỏe ở 3 cấp trình độ đó là : Sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề. Ngay từ ngày đầu thành lập trường đã xác định hoạt động. phối hợp với các doanh nghiệp, cơ sở y - dược là hết sức quan trọng. Qua quá trình thực hiện hoạt động phối hợp đào tạo đã đem lại những kết quả nhất định.
Để đánh giá thực trạng, tổng kết rút kinh nghiệm và đề xuất các biện pháp quản lý các hoạt động trên nhằm đạt kết quả cao hơn cần thiết phải có một nghiên cứu tổng hợp, khách quan. Chính vì vậy tôi chọn “Biện pháp quán lý công tác phối hợp với các cơ sở y tế tại địa phương trong hoạt động đào tạo ngành Điều dưỡng ở trường Cao đẳng Phương Đông, Đà Nẵng" làm đề tài luận văn tốt nghiệp. MỘT SÓ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐÈ TÀI 1. Khái niệm về quản lý và quản lý giáo dục a.
Khái niệm quan ly Quan lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong mọi thời đại, bởi từ khi xã hội loài người xuất hiện, con người đã có nhu cầu lao động tập thể, hình thành nên cộng đồng và xã hội, trong lao động. có sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động này nhằm đạt hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc. Điều này đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra.
tức là phải có người đứng đầu. Hoạt động quản lý được nảy sinh từ nhu cầu đó. Mác viết: "Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo đề điều hòa hoạt động”. Một 12 nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng.
Trong cấp cứu, khi vận chuyển (khiêng) người bệnh có 2 cấp cứu viên trở lên thì bắt buộc phải có 1 người chỉ huy, người này có nhiệm vụ "quản lý" tình trạng người bệnh và cả người khiên để điều khiển thích hợp.