TRƯỜNG CAO ĐẲNG PHƯƠNG ĐÔNG ĐÀ NẴNG KHOA DƯỢC GIÁO TRÌNH LÝ THUYẾT HÓA - DƯỢC LÝ ĐỐI TƯỢNG : Cao đẳng Dược TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ Đà Nẵng, 2017 5 MỤC LỤC BÀI 1: DƯỢC ĐỘNG HỌC. 1 BÀI 2: TÁC DỤNG CỦA THUỐC. 10 BÀI 3: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TÁC DỤNG CỦA THUỐC. 13 BÀI 4: THUỐC MÊ VÀ THUỐC TIỀN MÊ.
17 BÀI 5: THUỐC TÊ. 25 Bài 6: THUỐC NGỦ VÀ RƯỢU. 30 Bài 7: THUỐC AN THẦN KINH VÀ THUỐC BÌNH THẦN. 38 BÀI 8: THUỐC TRỊ TIÊU CHẢY, LỴ.
47 BÀI 9: THUỐC GIẢM ĐAU THỰC THỂ. 63 Bài 11: THUỐC LỢI TIỂU. 74 BÀI 12: THUỐC CHỮA BỆNH TIM MẠCH. 91 BÀI 14: THUỐC CHỮA THIẾU MÁU.
106 BÀI 15: THUỐC GIẢM ĐAU – HẠ SỐT – KHÁNG VIÊM KHÔNG STEROID. 111 BÀI 16: THUỐC CHỐNG DỊ ỨNG (THUỐC KHÁNG HISTAMIN H1). 124 BÀI 17: THUỐC CHỮA HO, LONG ĐÀM, HEN PHẾ QUẢN. 132 BÀI 18: THUỐC CHỮA LOÉT DẠ DÀY-TÁ TRÀNG.
142 BÀI 19: KHÁNG SINH. 150 Bài 20: SULFAMID KHÁNG KHUẨN. 175 6 BÀI 1: DƯỢC ĐỘNG HỌC MỤC TIÊU HỌC TẬP 1. Trình bày được quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa thuốc trong cơ thể người.
Kể được các đường thải trừ thuốc ra khỏi cơ thể và ý nghĩa của nó trong sử dụng thuốc. NỘI DUNG Tùy theo mục đích điều trị thuốc có thể được đưa vào cơ thể theo các đường khác nhau. Dù cho dùng đường nào chăng nữa thuốc cũng sẽ vào máu ở những mức độ khác nhau, sau đó sẽ xảy ra đồng thời hoặc tuần tự các quá trình phân bố, chuyển hóa và thải trừ thuốc. Các quá trình này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: cấu trúc hóa học và lý hóa tính của thuốc, dạng bào chế, đường dùng, trạng thái bệnh lý và yếu tố cá thể người bệnh…Có thể trình bày tóm tắt các quá trình vận chuyển của thuốc trong cơ thể theo sơ đồ dưới đây: Huyết tương Mô Thuốc - protein Nơi dự trữ Protein Nơi tác dụng + Thuốc - receptor Tác Thuốc Thuốc Thuốc dụng Nơi chuyển hóa Chất chuyển Chất chuyển hóa hóa Đường thải trừ Đường khác Thận Tiêu hóa 1.
SỰ HẤP THU THUỐC Sự hấp thu thuốc là quá trình thuốc thấm vào vòng tuần hoàn chung. Để phát sinh tác động thuốc thường phải đi qua một hay nhiều màng tế bào. Vì vậy sự hấp thu thuốc phụ thuộc bản chất của màng tế bào. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG HẤP THU THUỐC Tính hòa tan của thuốc Nồng độ thuốc tại nơi hấp thu pH nơi hấp thu Tuần hoàn nơi hấp thu Bề mặt nơi hấp thu.
CÁC ĐƯỜNG HẤP THU THUỐC Tùy theo mục đích điều trị, trạng thái bệnh lý và dạng bào chế của thuốc mà người ta lựa chọn đường đưa thuốc vào cơ thể cho phù hợp để đạt hiệu quả điều trị cao. Có nhiều đường đưa thuốc vào cơ thể nhưng có thể xếp vào 2 loại đường chính là đường tiêu hóa và ngoài đường tiêu hóa. Đường tiêu hóa tính từ niêm mạc miệng đến hậu môn. Trừ loại thuốc đặt duới lưỡi và thuốc dùng qua đường trực tràng, còn lại thuốc dùng đường uống sẽ trải qua từ đầu đến cuối ống tiêu hóa và sẽ được hấp thu với mức độ khác nhau ở các phần khác nhau của ống tiêu hóa.
Các đường khác dưa thuốc như đường tiêm, qua da… cũng có những đặc điểm hấp thu rất khác nhau. Đường hấp thu qua da Thông thường người ta dùng thuốc bôi ngoài da với mục đích tac dụng tại chỗ. Khả năng hấp thu thuốc của da nguyên vẹn (không bị tổn thương) kém hơn nhiều so với niêm mạc. a) Cấu tạo da Biểu bì (lớp sừng) Bì Hạ bì.
b) Nguyên tắc vận chuyển thuốc qua da Lớp biểu bì bị sừng hóa chính là “hàng rào” hạn chế sự hấp thu thuốc của da. Lớp biểu bì này không có hệ thống mao mạch và chứa một hàm lượng nước rất thấp (khoảng 10%) do đó hầu như thuốc không được hấp thu ở đây mà chỉ có một lượng đáng kể đi qua da để rồi tiếp tục được hấp thu. Hấp thu thuốc qua da phụ thuộc hệ số phân chia D/N của thuốc: những chất ưa lipid đồng thời lại có tính ưa nước ở mức độ nhất định, được hấp thu một phần qua da. Ngược lại những chất chỉ ưa lipid mà không ưa nước được hấp thu rất ít qua da.
Đường thấm qua da có thể gây được tác dụng từ nông đến sâu và cả tác động toàn thân, cụ thể: Tác dụng dùng ngoài da: thuốc mỡ, cao dán. Tác dụng nông, tại chỗ: thuốc sát khuẩn, chống nấm. Tác động tới lớp bì: tinh dầu, salicylat, hormon. Tác động toàn thân: bôi nitroglycerin trên da vùng tim, dán băng dán scopolamin lên da vùng thái dương, băng dán estraderm chứa estradiol.
Dùng thuốc hấp thu qua da dưới dạng miếng dán có ưu điểm là nó có thể duy trì được nồng độ thuốc ở huyết tương ổn định trong một thời gian dài. Tuy nhiên, dạng thuốc này có nhược điểm là có thể gây dị ứng hoặc kích ứng tại chỗ. Trong trường hợp đó nên thay đổi vị trí dán khoảng 3 ngày/lần, thậm chí có thể ngắn hơn c) Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hấp thu thuốc qua da Hydrat hóa lớp sừng Loại tá dược Độ dày của lớp sừng Chà xát, xoa bóp da Tuổi tác 1. Đường tiêu hóa a) Hấp thu qua niêm mạc miệng 2 Khi uống thuốc chỉ lưu lại niêm mạc miệng một thời gian rất ngắn (2-10 giây) rồi chuyển nhanh xuống dạ dày nên hầu như không có sự hấp thu ở đây.
Tuy nhiên nếu dùng thuốc dưới dạng viên ngậm hoặc đặt dưới lưỡi thì một số thuốc ưa lipid không bị ion hóa sẽ nhanh chóng được hấp thu theo cơ chế khuyeechs tán đơn thuần. Niêm mạc miệng đặc biệt là niêm mạc dưới lưỡi có hệ mao mạch phong phú gồm có niêm mạc lưỡi, niêm mạc sàn miệng, niêm mạc mặt trong hai má. Từ đó thuốc đổ vào tĩnh mạch cổ phía trong rồi đổ vào hệ đại tuần hoàn mà không bị gan biến đổi. Do đó các thuốc dễ bị gan hủy hoại sẽ có tác dụng tốt hơn nếu đặt dưới lưỡi như hormon sinh dục, corticosteroid, trinitrin, isoprenalin.
Các thuốc dùng qua niêm mạc miệng cần phải tan trong nước, không gây kích ứng niêm mạc và không có mùi khó chịu. b) Hấp thu qua niêm mạc dạ dày Sauk hi uống, thuốc từ khoang miệng đi nhanh qua thực quản (khoảng 10 giây đối với chất rắn, 1-2 giây đối với chất lỏng) rồi chuyển xuống dạ dày. Hấp thu qua niêm mạc dạ dày rất hạn chế do hệ thống mao mạch ít phát triển và môi trường pH rất acid. Các acid yếu như salicylat, barbiturat ít phân ly ở dịch vị nên hấp thu được qua dạ dày.
Các base yếu như pyramidon, quinin, ephedrin dễ phân ly nên khó hấp thu. c) Hấp thu qua niêm mạc ruột non Dễ dàng nhất so với các phần khác của hệ tiêu hóa vì: Hệ thống mao mạch rất phát triển. Nằm ngay dưới lớp màng đáy của tế bào biểu mô của nhung mao là hệ thống dày đặc các mao mạch với lưu lượng máu cao (khoảng 0,9 lít/phút). Diện tích hấp thu rất rộng.
Ruột non bao gồm tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng. Trên niêm mạc ruột non bắt đầu từ hống tràng kéo dài xuống cách hồi tràng 60 -70 cm có những van ngang hình liềm. Trên niem mạc và trên những van ngang này có rất nhiều nhung mao. Tổng diện tích tiếp xúc của các nhung mao vào khảng 40-50m2.
Bờ tự do của các tế bào biểu mô của nhung mao lại chia thành các vi nhung mao nên diện tích hấp thu của niêm mạc ruột non được tăng lên rất nhiều. Giải pH từ acid nhẹ đến kiềm nhẹ thích hợp cho việc hấp thu các nhóm thuốc có tính kiềm hoặc acid khác nhau. Ở tá tràng pH=5-6, môi trường acid nhẹ nên một số thuốc có bản chất là acid yếu tiếp tục được hấp thu như penicillin, griseofulvin… Ở hỗng tràng có pH=6-7 Môi trường dịch hồi tràng kiềm nhẹ với pH=7-8 Thời gian lưu ở ruột non lâu Nhu động ruột giúp phân tán thuốc. Có các dịch tiêu hóa như dịch tụy, dịch ruột, đặc biệt là dịch mật trong đó có acid mật, muối mật có tác dụng nhũ tương hóa các chất tan trong lipid, tăng khả năng hấp thu các vitamin tan trong dầu.
Ở niêm mạc ruột non có nhiều chất mang nên ngoài cơ chế khuếch tán đơn thuần, ẩm bảo, thực bào, ở đây quá trình hấp thu thuốc còn được thực hiện theo cơ chế khuếch tán thuận lợi và vận chuyển tích cực d) Hấp thu qua niêm mạc ruột già (đường trực tràng) Năng lực hấp thu ở ruột già kém hơn ở ruột non rất nhiều. Tuy nhiên phần cuối của ruột già có khả năng hấp thu thuốc tốt hơn vì có hệ tĩnh mạch phong phú. Có một số ưu điểm: Tránh được một phần tác động của gan Liều dùng nhỏ hơn liều cho uống Dùng tiện lợi đối thuốc có mùi khó chịu, bệnh nhân nôn mửa, hôn mê Có tác dụng tại chỗ như trĩ, viêm trực tràng. Ngày nay thường được dùng trong các trường hợp tổng quát (thuốc ngủ, thuốc hạ nhiệt).
Đường hô hấp 3 Phổi được cấu tạo từ các ống dẫn khí (các phế quản và các tiểu phế quản) và các phế nang. Các phế nang và các ống dẫn khí có mạng mao mạch phong phú bao quanh. Đặc biệt bề mặt tiếp xúc của phế nang rất lớn (70-100m2) nên thuận lợi cho việc trao đổi khí và hấp thu thuốc. Các chất được hấp thu qua đường này ở dạng hơi hay dễ bay hơi, chất lỏng dạng khí dung.
Sau khi tiếp xúc với niêm mạc bộ máy hô hấp, thuốc đi vào tuần hoàn không bị gan phân hủy. Liều dùng vào khoảng liều tiêm dưới da. Đường tiêm chích a) Đường tiêm dưới da (Sous cutané = SC) Thuốc được hấp thu chậm và đau hơn tiêm bắp vì: Hệ thống mao mạch dưới da ít hơn cơ Ngọn dây thần kinh cảm giác dưới da nhiều hơn cơ. b) Đường tiêm bắp (Intramusculaire = IM) Tương tự đường tiêm dưới da nhưng nhanh hơn và ít đau hơn.
c) Đường tiêm tĩnh mạch (Intraveineux = IV) Thuốc thấm nhập nhanh chóng và toàn vẹn, dùng khi khẩn cấp Liều dùng chính xác và kiểm soát được Tránh dùng các chất gây kích ứng, không dùng các chất dầu hay các chất không tan, tránh dùng các chất gây tiêu huyết hay có hại cho cơ tim. SỰ PHÂN PHỐI THUỐC 2. GẮN VỚI PROTEIN HUYẾT TƯƠNG Khi vào máu thuốc có thể tồn tại dưới dạng tự do, một phần gắn với protein huyết tương.