CHƯƠNG I NHUNG VAN DE LY LUAN VE TAO DONG LUC LAM VIEC 1. MOT SO KHAI NIEM CO BAN 1. Khái niệm nhu cầu Nhu cầu được hiểu là tất cả những đòi hỏi và mong muốn của con người về vật chất và tinh thần được đáp ứng và thỏa mãn. Nhu cầu của con người rất đa dạng và phức tạp, thường xuyên tăng lên về chất lượng và số lượng.
Nếu nhu cầu không được thỏa mãn thì con người sẽ cảm thấy khô sở và bất hạnh. Ngược lại, khi một nhu cầu được thỏa man thì lập tức xuất hiện những nhu cầu khác cao hơn. Theo quan điểm của Marketing: “Nhu cầu là khái niệm rộng, bao gồm những cảm giác thiếu hụt của con người về một cái gì đó và cần được thỏa mãn. Khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu cơ bản được giảm mạnh và được thay thế bằng nhu cầu được “ăn ngon, mặc đẹp”, “vui chơi giải trí” và hưởng.
thụ cuộc sống”. Trên thực tế, nhu cầu chỉ phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nó được xem như là nguồn gốc tạo ra động lực thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng, chỉ phối của con người càng cao.
Khái niệm động cơ thúc đẩy Y tưởng nghiên cứu động cơ hoạt động của con người đã tồn tại rất lâu. trong lịch sử tâm lý học. Bằng cách tiếp cận và nghiên cứu khác nhau, các nhà tâm lý học đã tìm ra cách lý giải tại sao con người có thể thực hiện được hành vi nào đó, tại sao hoạt động của con người có thể kéo dài trong một thời gian nhất định hoặc ngưng lại đúng lúc. Tuy nhiên trong tâm lý học có nhiều cách lý giải khác nhau về động cơ.
Theo tâm lý học hoạt động: Những đối tượng nào được phản ánh vào óc ta mà có tác động thúc đây hoạt động, xác định phương hướng hoạt động để thỏa mãn nhu cầu nhất định thì được gọi là động cơ hoạt động. Trong kinh tế, động cơ là cái có tác dụng chỉ phối, thúc đây người ta suy nghĩ và hành động. Động cơ là sự quy định về mặt chủ quan hành vi con người bởi thế giới. Sự quy định này được thực hiện gián phản ánh động cơ đó.
Có thể nói, người lao động có động cơ làm việc một cách tự nhiên. Động cơ này bắt nguôn từ thực tế là mọi người đều mong muốn được khẳng. định bản thân mình, được thành đạt, được tự chủ và có thâm quyền với công việc của mình, cũng như muốn có thu nhập đảm bảo cuộc sống cá nhân sung, túc. Chính vì vậy, để người lao động làm việc tốt thì người quản lý cần phải loại trừ những hoạt động tiêu cực có thể triệt tiêu động cơ làm việc tự nhiên của người lao động.
Kế tiếp, cần phải phát triển những yếu tố thực sự có thê thúc đẩy các nhân viên làm việc. Khái niệm động lực làm việc Có rất nhiều quan niệm khác nhau về động lực làm việc. rằng động lực làm việc là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định. Higgins đưa ra khái niệm động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn.
Còn theo Giáo trình Hành vi tổ chức của Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân thì động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng. như bản thân người lao động. Những khái niệm trên đây tuy có khác nhau nhưng đều thể hiện được bản chất của động lực gồm những điểm như sau: 10 Động lực lao động luôn gắn với một công việc cụ thể, một tổ chức, một môi trường làm việc cụ thể.
Như vậy phải hiểu rõ về công việc và môi trường làm việc thì mới có thể đưa ra biện pháp tạo động lực cho người lao động. Động lực làm việc luôn mang tính tự nguyện. Nếu bị ép buộc hoặc làm việc một cách bị động chắc chắn kết quả công việc sẽ kém và chất lượng công. việc sẽ không cao.
Vì vậy nhà quản lý phải có nghệ thuật để tăng cường tính tự giác, tự nguyện của người lao động để tạo động lực làm việc nhằm thu được kết quả thực hiện công việc thật tốt và có khi ngoài mong di Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực làm việc sẽ dẫn tới năng suất hiệu quả cao hơn. Nhưng động lực chỉ là nguồn gốc chứ không phải nhân tố tắt yếu dẫn tới tăng năng suất lao động cá nhân và hiệu quả công việc vì điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như trình độ, kỹ năng, phương tiện lao động. Như vậy, động lực được hiểu là sự khát khao tự nguyện của người lao động nhằm tăng cường sự nỗ lực trong công việc để đạt được những mục tiêu của cá nhân và mục tiêu chung của doanh nghiệp. Động lực làm việc bao gồm động lực bên trong và động lực bên ngoài.
+ Động lực bên trong: Là động lực xuất phát từ sự khát khao được thỏa mãn các nhu cầu bên trong của từng cá nhân người lao động. + Động lực bên ngoài: Liên quan đến các yếu tố tác động bên ngoài của các doanh nghiệp và nhà quản trị như mức độ thỏa mãn công việc hay khả năng đáp ứng nhu cầu của người lao động về lương bồng đãi ngộ, điều kiện làm việc, môi trường làm việc, cách đối xử của các nhà quản trị, tính hấp dẫn, độc đáo hữu ích, bao gồm các yếu tó và nội dung công việc. CAC LY THUYET VE DONG LUC LAM VIEC 1. Thuyết phân cấp các nhu cầu của A.Maslow (1943) Theo Maslow, con người làm việc để thỏa mãn những nhu cầu của chính họ.
Các nhu cầu mà con người có được chia làm 5 loại và được sắp xếp. theo thứ bậc từ thấp đến cao theo sơ đồ sau: ‘Nhu cau tr khẳng định Nhu cau được tôn trong Nhu cầu xã hội Nhu câu an toàn Nhu cầu sinh lý Tháp phân cấp các nhu cầu của Abraham Maslow nh lý: là những nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như: thức ăn, thức uống, sưởi ấm, nhà ở, ngủ. Maslow quan niệm rằng: khi những nhu cầu này chưa được thỏa mãn đến mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác sẽ không được thúc đây. ~ Nhu cầu an toàn: Được thấu rð một cách hiền nhiên và rất phô biến với mọi người, tắt cả mọi người đều mong muốn thoát khỏi những rủi ro trong cuộc sống như: tai nạn, chiến tranh, bệnh tật và sự bắp bênh về kinh tế.
Do đó, các tổ chức muốn đảm bảo chắc chắn cho những rủi ro này sẽ được giúp đỡ nếu đưa ra các chính sách: phụ cấp, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tai nạn rủi ro. Điều này 12 sẽ làm cho con người dễ bị phục tùng hơn nhưng chưa chắc chắn cho hiệu quả cao nếu trong công việc cần sự sáng tạo mà nhấn mạnh quá mức vào nhu cầu có thể cản trở hành vi mong muốn của họ. ~ Nhu cầu xã hội: Con người là một thực thể của xã hội, hầu hết mọi người đều có sự tác động qua lại với người khác trong những hoàn cảnh mà ở đó họ thấy hoàn cảnh thuộc về họ và được mọi người xung quanh chấp nhận. Mặc dù đây là nhu cầu chung, nhu cầu này có xu hướng mạnh mẽ hơn trong một hoàn cảnh nhất định.
Không phải lúc nào mối quan hệ tốt đẹp thúc đẩy sự hội nhập. Trong nhiều ví dụ con người tìm kiếm sự hội nhập vì họ muốn người khác khẳng định: “niềm tin” của họ, những người có niềm tin, lý tưởng giống nhau có xu hướng kết bạn với nhau. Đặc biệt nếu có niềm tin vốn đã sâu sắc nhưng. đã bị tan vỡ, trong xu hướng này họ có xu hướng tụ họp và đạt đến sự hiểu biết chung nào đó về điều họ phải tin tưởng.
Trong ví dụ này nhu cầu hội nhập được thúc đây bởi những mong muốn tạo lập cuộc sống riêng. Mặt khác khi con người bị kích động, bối rối hoặc bắt hạnh thì họ muốn tìm kiếm một người nào đó có cùng niềm tin ở bên. ~ Nhu cầu được tôn trọng: Nhu cầu được tôn trọng xuất hiện dưới một số hình thức, xét hai hình thức chủ yếu: “uy tín” và “quyền lực”. ~ Nhu cầu tự khẳng định Đây là nhu cầu khó nhận biết: “năng lực” và “thành tích” là hai động lực có liên quan.
Lý thuyết hai yếu tố của F. Cách tiếp cận theo nhu cầu của Abraham Maslow đã được F. và các trợ lý của ông sửa đổi một cách đáng kể. Sự nghiên cứu của họ nhằm mục đích đưa ra một lý thuyết hai yếu tố về động lực thúc đây.
Trong lúc điều 13 tra, ông đã nêu lên nhiều vấn đề như: lúc nào là lúc bạn hài lòng nhất với công. việc?, lúc nảo là lúc bạn không hài lòng nhất với công việc và nguyên nhân của chúng? v.rồi yêu cầu những người được hỏi trả lời. Sau khi tổng hợp. phân tích kết quả điều tra, ông phát hiện rằng những nhân tố khiến họ không.
hài lòng thường là nhân tố bên ngoài công việc, đại đa số những nhân tố có liên quan đến điều kiện làm việc và môi trường làm việc của họ, còn những nhân tố khiến họ hài lòng thường là nhân tố bên trong của công việc, do bản thân công việc quyết định. Ong cho rằng những nhân tố ảnh hưởng tới hành vi con người chủ yếu có hai loại: nhân tố duy trì và nhân tố khích lệ (hay nhân tố tạo động lực thúc day). Mô hình mô phỏng thuyết hai yếu tố của Herzberg như sau: Khu vực không thỏa mãn bao | | Khu vực | | Khu vực thỏa mãn bao gồm gồm các yếu tố duy trì: trung tính: | | các yếu tố thúc đẩy: Điều kiện làm việc Không thỏa | | Sự thừa nhận Lương và sự an toàn mãn — mà | | Sự thành đạt Chính sách của công ty cũng không | | Trách nhiệm Mối quan hệ giữa các cá nhân thấy không | | Tự làm việc Những người quán lý thỏa mãn Phát triển bản thân Hình 1. Hình thuyết hai yếu tố của Herzberg 1.