CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC TRONG DOANH NGHIEP 1. KHAI QUAN VE N IN NHAN LUC VA PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC 1. Nhân lực Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về nhân lực khác nhau. Theo Trần Xuân Cầu (2008), nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động [I, 8] “Theo Phạm Đức Thanh (1995), nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm thể lực, tri lực và nhân cách. Thẻ lực: Là sức khỏe của người lao động. Trí lực: Là sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm của từng người. Nhân cách là cách đối xử, lòng tin, trách nhiệm.
của con người trong lao động, làm việc [28, 6] Như vậy, Nhân lực là nguồn lực trong mỗi con người. Chất lượng nhân lực được thể hiện ở giới tính, sức khỏe, trình độ chuyên môn, ý thức, tác phong, thái độ làm việc của con người và được đánh giá qua khả năng làm việc và hiệu quả công việc mà con người thực hiện được 1. Nguồn nhân lực Thuật ngữ nguồn nhân lực này bắt đầu trở nên phổ biến vào những thập niên của nửa sau thế kỉ XX khi có sự thay đổi trong quản lý phương thức 12 nguồn lực con người, khi vai trò của người lao động được đề cao và coi trọng hơn. Con người được tạo điều kiện tốt để có thể phát huy khả năng của mình trong quá trình lao động.
Ngày nay, với mỗi phương thức tiếp cận khác nhau, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực Theo định nghĩa của Liên Hợp quốc “nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực có thực tế cùng. với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người” [33,3]. Bùi Văn Nhơn (2006) cho rằng, “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương. Theo Nguyễn Quốc Tuấn và cộng sự (2006), “Nguồn nhân lực được hiểu.
theo nghĩa bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác của người lao động”. Theo Nicholas Henry (2007), “nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của các quốc gia, khu vực, thế giới” [32, 4]. Như vậy, để xác định nguồn nhân lực, chúng ta phải xác định các thông. tin cả về định lượng và định tính dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Nhưng nhìn chung, đó là sự đánh giá các tiềm năng của con người cũng như năng lực, khả năng, thái độ của người lao động để từ đó nhà quản trị có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực Trên cơ sở định nghĩa nguồn nhân lực, cũng có rất nhiều khái niệm về phát triển nguồn nhân lực khác nhau. Trong Luận văn này, tác giả đề xuất 13 cách tiếp cận phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ vi mô, trong phạm vi một doanh nghiệp cụ thể. Một số khái lệm như sau: Tác giả Đỗ Minh Cương (2001), cho rằng “Phát triển nguồn nhân lực (tài nguyên nhân sự) chính là việc thực hiện tất các chức năng và công cụ quản lí nhằm có được cơ cấu đội ngũ cán bộ, công nhân viên của tổ chức phù hợp về mặt số lượng và có chất lượng cao thông qua hoạt động của họ mà không ngừng nâng cao hiệu quả của tổ chức, làm cơ sở và động lực cơ bản cho sự phát triển bền vững của tổ chức đó” [17, 24] Theo Trần Xuân Cầu (2008), “Phát triển nguồn nhân lực là một quá trình phát triển và thúc đây sự tinh thông, năng suất và sự hài lòng mà cần cho.
cá nhân hoặc nhằm mang lại lợi ích cho một tổ chức”[1,56]. Theo Nguyễn Tiệp (2008), “Phát triển nguồn nhân lực được xem xét trên nhiều mặt: là sự gia tăng mức sống, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, sức khoẻ của các thành viên trong xã hội hoặc tổ chức, tính năng động trong xã hội (khả năng sáng tạo, thích ứng nhanh nhạy với công việc.), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, hiệu quả lao. động, mức thu nhập và mức độ thỏa mãn công việc” [29,9]. Trong một tổ chức, để phát triển nguồn nhân lực cần thực hiện thông qua các chức năng công tác phát triển, nhằm có một đội ngũ nhân lực phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển của tổ chức trong một thời gian nhất định.
Như vậy, một cách tông quát, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo. ra sự thay đôi tích cực về cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực để phục vụ mục tiêu của tổ chức. Cơ cấu bao gồm số lượng người lao động và sẽ có thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai. Cơ cấu được thể hiện trên các phương diện khác nhau như trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi.
14 Chất lượng bao gồm các nội dung: nâng cao năng lực (trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỳ năng nghề nghiệp, nhận thức của người lao động) và tạo động lực thúc đây làm việc (tiền lương, khen thưởng, phúc lợi, sự thăng tiến) cùng với quá trình tạo ra những thay đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực. DAC DIEM CUA PHAT TRIEN NGUON NHÂN LỰC So với phát triển các nguồn lực khác, phát triển nguồn nhân lực có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, nguồn nhân lực của doanh nghiệp, tổ chức đặt trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển nguồn nhân lực quốc gia, vùng lãnh thé và chịu ảnh hưởng chính sách, chiến lược phát triển nguồn nhân lực của quốc gia và vùng lãnh thô đó. Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp, tổ chức là phát triển và hoàn thiện các yếu tố nhằm nâng cao khả năng làm việc giữa những con người Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp, tổ chức phải xuất phát từ mục tiêu, chiến lược hướng giải quyết mục tiêu của doanh nghiệp. Thứ tự, nguồn nhân lục là nguồn lục đặc biệt rong doanh nghiệp, tổ chức, mang bản chất con người nên chịu sự chỉ phối của các yếu tố tâm sinh lý.
Quá trình sử dụng nguồn nhân lực sẽ tạo ra giá trị lớn đồng thời đóng vai trò quyết định trong việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác của doanh nghiệp. NỘI DUNG PHÁT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP. Phát triển nguồn nhân lực là nâng cao bản chất bên trong của nguồn 15 nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ảnh trình độ phát triển của doanh nghiệp. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nâng cao nguồn nhân lực luôn là mục tiêu đặt lên hàng đầu trong mục tiêu phát triển của doanh nghiệp.
Đảm bảo về số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực Số lượng nguồn nhân lực của một doanh nghiệp biểu hiện quy mô lực lượng lao động của doanh nghiệp đó. Tùy theo đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của mỗi doanh nghiệp, phụ thuộc vào quy mô, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp đó, cũng như chức năng, nhiệm vụ và hoạt động trong ngành nghề lĩnh vực của doanh nghiệp đó mà mức độ thâm dụng lao động của doanh nghiệp sẽ nhiều hay ít. Trên cơ sở đó, nguồn nhân lực của doanh nghiệp có thể được phân loại theo giới tính, độ tuôi, chuyên môn và trình độ học vấn. ứng với mỗi tiêu chí để phân loại sẽ có một số lượng cơ cấu nguồn nhân lực tương ứng.
Sự phù hợp của cơ cấu nhân lực đó là chất lượng. Xác định số lượng, cơ cấu nguồn nhân lực cần thiết có vai trò quan trọng, nó gắn liền với mục tiêu, chiến lược phát triển của tổ chức. Mục tiêu chỉ có thể hoàn thành tốt khi số lượng nguồn nhân lực được xác định một cách đúng đắn, vừa đủ để thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thé. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực +* Nâng cao trình độ chuyên môn người lao động Trình độ chuyên môn là những điều hiểu biết có được hoặc do từng trải, hoặc nhờ học tập.
Nâng cao trình độ chuyên môn là nâng cao kiến thức tông, hợp, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật, kiến thức đặc thù, khả năng, phân tích, ứng dụng và đánh giá để đảm đương các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động khác; là phát triển, nâng cao kiến thức về kỹ 16 thuật, kinh tế, xã hội. để thích ứng nhanh nhạy với những thay đổi của thị trường lao động hiện nay. Phát triển trình độ chuyên môn là nội dung quan trọng trong việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, doanh nghiệp cần thực hiện các kế hoạch, chương trình đào tạo ngắn hạn va dai han nhằm bồi dưỡng và cập nhật kiến thức cho mọi đối tượng nhân viên và nhà quản trị.
Thời đại bùng nỗ công nghệ và thông tin đã tác động mạnh mẽ đến quy trình sảnxuất, quản lý, cách thức làm việc. Chính những tác động nay dat ra yêu cầu về nguồn nhân lực ngày một cao. Doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đào tạo mang tính chất tượng trưng, đối phó mà phải nhìn xa trông rộng. Các nhà quản trị doanh nghiệp phải nắm bắt được xu hướng của thời đại, xác định được chiến lược hoạt động, từ đó đề ra kế hoạch, chương trình đào tạo ngắn hạn, dài hạn nhằm bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho nguồn nhân lực.
của doanh nghiệp mình. Bên cạnh đó, việc xây dựng các tiêu chuẩn chuyên môn phù hợp với từng đối tượng, trong từng giai đoạn để có kế hoạch đào tạo. s* Nâng cao kỹ năng của người lao động Kỹ năng của người lao động là sự thành thạo, tỉnh thông về các thao tác, động tác, nghiệp vụ trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thê nào đó. Những kỹ năng sẽ hỗ trợ cho người công nhân đó hoàn thành tốt công việc của mình, tăng tính hiệu quả của công việc.
Nâng cao kỹ năng là một trong những yếu tố tạo động lực làm việc cho nhân viên, quyết định hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.