Chương 1: Cơ sở lý luận phát triển nguồn nhân lực Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch quận Ngũ Hành Sơn giai đoạn 2012-2016 Chương 3: Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch quận Ngũ Hành Sơn 13 CHUONG 1 CO SO LY LUAN PHAT TRIEN NGUON NHÂN LỰC DU LỊCH 1.1 TONG QUAN VE PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC DU LICH 1. Một số khái niệm &. Nhân lực Nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là nhân tố quyết định đến sự sống còn và sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong thế kỷ XX, đã có những quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, nhưng do phát huy tốt nguồn lực về con người nên đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thành công nghiệp hóa và hiện đại hóa chỉ trong vài ba thập kỷ.
Điển hình là Nhật Bản, sau thế chiến II, số người không có việc làm ở Nhật Bản chiếm tới 17,5% dân số. Nhờ một loạt chính sách được đề ra đúng định hướng, trong đó có chính sách phát triển nguồn nhân lực, nên chỉ sau một thời gian ngắn, Nhật bản đã trở thành một trong những cường quốc có nền kinh tế đứng đầu thế giới. Chúng ta có thể hiểu một cách ngắn gọn như sau: “Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, gồm nhân cách, trí lực và thể lực”. Trong đó: - Thể lực chỉ sức lực của cơ thể người.
Các tố chất thể lực của con người gồm: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo. - Tri lực chỉ năng lực trí tuệ của con người, là sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng người. Có những quan điểm khác nhau và cách giải thích khác nhau về khía cạnh này, nhưng đều có chung một nhận định: trí lực không phải là một năng lực đơn độc, nó là một sức mạnh tông hợp của nhiều loại năng lực.
14 ~ Theo quan điểm của Triết học Mác -Lênin, nhân cách được hiểu là những cá nhân con người với tính cách là sản phẩm của sự phát triển xã hội, của sự giao tiếp, của nhận thức, chủ thể của lao động, bị quy định bởi những điều kiện lịch sử — cụ thể của đời sống xã hội. Nguôn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực không còn xa lạ đối với xã hội ngày nay. Nguồn nhân lực là một khái niệm xuất phát từ những mục tiêu nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau nảy sinh ra nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Khái niệm “Nguồn nhân lực” được nhiều nước phương Tây và một số nước Châu Á sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX và hiện nay khá thịnh hành trên thế giới dựa trên các quan điểm mới về vai trò, vị trí của con người trong sự phát triển.
Có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực với nhiều cách tiếp. cận, cách hiểu khác nhau của mỗi tác giả mà có những quan điểm, cách diễn đạt khác nhau về nguồn nhân lực. Trong đó, có thể kể đến một số khái niệm Sau: Theo từ điển thuật ngữ của Liên Xô trước đây, nguồn nhân lực được. hiểu là toàn bộ những người lao động dưới dạng tích cực (đang lao động) và dang tiềm tàng (có khả năng lao động nhưng chưa tham gia).
Cách tiếp cận này dựa trên các quan điểm về vai trò và chất lượng nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Tổ chức Ngân hàng Thế giới quan niệm về nguồn nhân lực chính là toàn bộ vốn con người bao gồm thẻ lực, trí lực, kỳ năng nghề nghiệp. của mỗi cá nhân. Theo quan điểm của Liên hiệp quốc thì nguồn nhân lực được hiểu là sự tông hợp tất cả những kiến thức, kỹ năng, năng lực, kinh nghiệm và tính sáng tạo 15 của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước.
Ở Việt Nam, các khái niệm về nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi và phổ biến kể từ đầu những năm của thập niên 90, thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đắt nước. Khái niệm nguồn nhân lực được hiểu ở dạng cơ bản đó là nguồn lực của con người, hoặc của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực như tài lực, vật lực. có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, được xem như là nguồn lao động của một bộ phận dân số những người đang ở độ tuổi lao động. Tùy theo hướng tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực khác nhau nên quy mô nguồn nhân lực cũng khác nhau, điều này có thể giúp các nhà hoạch định chính sách có cách thức và giải pháp khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn nhân lực.
Với cách tiếp cận dựa vào độ tuổi của người lao động và trạng thái hoạt động kinh tế, ‘éng cục Thống kê Việt Nam đã đưa ra khái niệm “Nguồn nhân lực gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc, những người thuộc các tình trạng khác như nghỉ hưu trước tuổi.” Ở một cách tiếp cận khác dựa vào giới hạn tuổi lao động và khả năng lao động của con người, nguồn nhân lực được hiểu là gồm bao toàn bộ những người trong độ tuôi tao động, có khả năng lao động nhưng không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm. Với khái niệm này quy mô nguồn nhân lực chính là nguồn lao động. Có thể khẳng định nguồn nhân lực chính là nguồn lực quan trọng bậc nhất của đất nước. Nếu xem xét dưới những khía cạnh khác nhau thì sẽ có nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, hầu hết những khái niệm trên đều cơ bản thống nhất một quan điềm: nguồn nhân 16 lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, đảm bảo cho mọi nguồn sáng tạo của tô chức, là nguồn lực vô tận của xã hội. Nhu vậy, có thể định nghĩa nguồn nhân lực hay nguồn lực con người là sự tổng hợp về cả mặt số lượng và chất lượng con người với tổng hòa các tiêu chí về thể lực, trí lực, những phẩm chất, nhân cách, đạo đức — tỉnh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ được huy động vào quá trình lao động sáng tạo nhằm ra các giá trị vật chất và tinh thần cho. Phát triển nguồn nhân lực Tương tự như khái niệm nguồn nhân lực, do có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhiều quan điểm khác nhau đang tổn tại nên hiện nay có nhiều khái niệm về phát triển nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực theo cách lập luận của một số tác giả là tổng.
thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiền hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. Theo quan điểm của Tổ chức giáo dục - khoa học và văn hoá của LHQ. (UNESCO): Phát triển nguồn nhân lực được đặc trưng bởi toàn bộ sự lành nghề của dân cư, trong mối quan hệ với việc phát triển đất nước. Bên cạnh đó, theo cách tiếp cận của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hay vấn đề đào tạo, mà còn là sự phát triển năng lực và cách thức sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
Đặc biệt để giúp hình dung một cách cụ thể và nhận thức rõ ràng về khái niệm phát triển nguồn nhân lực, một quan điểm khác lại nhắn mạnh việc 17 phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tỉnh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho. con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao. hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội. Viét Nam cũng đã đưa ra quan điểm riêng về phát triển nguồn lực con người phù hợp với tình hình phát triển chung của đất nước.
Mục tiêu chiến lược của phát triển nguồn nhân lực Việt Nam là đáp ứng sự nghiệp CNH — HDH đất nước để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Tại Đại hội lần thứ IX của Đảng, đã định hướng cho phát triển nguồn nhân lực Việt Nam chính là: “Người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo và bồi đưỡng bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ”. Trong Quyết định số 579/QĐ-Ttg ngày 19/4/2011, quan điểm chỉ đạo. thực hiện mục tiêu phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 201 1-2020 có nêu cụ thé: “Phát triển nhân lực toàn diện, gồm những yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng, hành vi và ý thức chính trị, xã hội theo yêu cầu phát triển toàn diện con người và phát triển con người bền vững” và “phát triển toàn diện về trí tuệ, ý chí, năng lực và đạo đức, có năng lực tự học, tự đào tạo, năng động, chủ động, tự lực, sáng tạo, có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng thích ứng và nhanh chóng tạo được thế chủ động trong môi trường sống và làm viée."[14] Trên quan điểm của một số tác giả, chúng ta có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình nâng cao năng lực con người về mọi mặt gồm thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm đề phát triển kinh tế- xã hội.
18 Bên cạnh đó theo tác giả Võ Xuân Tiến: Phát triển NNL còn được hiểu là tạo ra tiềm năng của con người thông qua đảo tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng, và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tỉnh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về môi trường làm việc (phương tiện lao động có hiệu quả và các chính sách hợp lý.