chương 1, những tồn tại ở chương 2 và các tiền đề để đưa ra những giải pháp cụ thể cho công tác phát triển nguồn nhân lực tại UBND quận Liên Chiểu. Chuong 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CO BAN VE PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC 1.1 TONG QUAN VE CONG TAC PHAT TRIEN NG N NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm nguôn nhân lực J3J [4] Trước đây trong quá trình nghiên cứu các nhà nghiên cứu sử dụng thuật ngữ "sức lao động”, "lực lượng lao động”.
Những năm 70 của thế kỷ XX, trong nghiên cứu và quản lý, thuật ngữ “nguồn lao động” được sử dụng phổ. Ngày nay, thuật ngữ nguồn nhân lực trở thành thuật ngữ chung và được. sử dụng rộng rãi. Đó chính là bước phát triển cao về tư duy và nhận thức trong nghiên cứu con người lao động và trong phát triển.
Điều đó có nghĩa là nguồn nhân lực được xem xét với nghĩa bao quát rộng hơn, không chỉ quan tâm đến số lượng mà ngày càng quan tâm đến chất lượng, gắn liền với quá trình phát triển con người trong thế giới hiện đại. Cho đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực, có thể nêu lên 1 số khái niệm sau: ~ Nguồn nhân lực là tắt cả các thành viên đang tham gia hoạt động trong tổ chức. ~ Nguồn nhân lực là toàn bộ tiềm năng con người về mặt hoạt động kinh tế - xã hội. Trong định nghĩa này các đặc điểm cơ bản nhất của khái niệm được làm rõ.
Lao động con người hay nhân lực phải bao gồm cả khả năng về thể lực và trí lực của một con người cụ thể trong tổ chức. Về nguồn nhân lực cũng được hiểu rõ hơn với tính chất tông hợp của toàn bộ các cá thể người lao. động cả ở hiện tại và tương lai của tổ chức. ~ Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của một quốc gia hay một lãnh thổ, một địa phương nhất định đang có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
~ Theo quan niệm của Việt Nam: Nguồn lao động gồm những người đủ 15 tudi trở lên có làm việc (gồm cả những người trên tuổi lao động thực tế đang làm việc) và những người trong tuổi lao động nhưng chưa có việc do: đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ gia đình, không có nhu cầu làm việc. ~ Nguồn nhân lực còn được hiểu như là một yếu tố tham gia trực tiếp vào. quá trình phát triển kinh tế xã hội, là tổng thể những con người cụ thể tham. gia vào quá trình lao động.
Theo cách hiểu này thì có thể cụ thể hóa và lượng hóa được, đó là khả năng lao động của xã hội. ~ Hay nguồn nhân lực được xác định như tiềm năng của con người, tiềm năng đó bao hàm tổng hòa năng lực về thẻ lực, trí lực và nhân cách của con người đáp ứng một cơ cấu do nền kinh tế đòi hỏi. - Có quan điểm cho rằng nguồn nhân lực trong tổ chức là số lao động trong danh sách của tổ chức, do tổ chức trả lương. Từ đó ta có thể tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực trí lực, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu, được sử dụng vào trong quá trình sản xuất để mang lại năng suất lao động cao hơn về mặt kinh tế.
Do vậy vốn con người là kết quả của quá trình đầu tư, tích lũy nên còn được gọi là tài sản vốn con người. Vốn con người được hình thành và phát triển qua nhiều kênh trong đó kênh giáo dục và đảo tạo là quan trọng nhất. Nguồn nhân lực trong một tổ chức sẽ bao gồm các mặt cơ bản sau: ~_ Về số lượng của nhân viên trong tổ chức: được thể hiện ở quy mô của tô chức, số lượng của nhân viên càng đông quy mô cảng lớn và ngược lại. ~_ Về cơ cấu: Thể hiện tính đa dạng cơ cấu nhân viên trong tổ chức qua trình độ, độ tuổi, giới tính, học hàm, học vị của nhân viên.
Tính đa dạng cơ cấu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh NNL trong tô chức. ~_ Về chất lượng nhân viên trong tổ chức bao gồm: + Trí lực: là tất cả những gì thuộc về trí tuệ, tỉnh thần, năng lực chuyên môn, khả năng sử dụng chuyên môn trong công việc, giá trị phẩm chất của nhân viên trong tổ chức. + Thể lực: là sức khỏe, thể chát, là sức chịu đựng áp lực công việc và cách xử lý căng thẳng trong công việc của nhân viên. + Nhân cách (đạo đức): đây là một phạm trù thể hiện tư tưởng, tình cảm, lối sống, thái độ và phong cách đối xử với đồng nghiệp trong tổ chức, với mọi người trong xã hội.
Tóm lại, ta có thể hiểu nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động, bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức. Hay nói cách khác, nguồn nhân lực nói lên khả năng lao động của con người, được đặc trưng bởi số lượng và chất lượng (về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, sức khỏe, năng lực, nhận thức, tư duy, phẩm chất.) của người lao động đáp ứng nhu cầu phát triển của tổ chức hoặc tổ chức. Phát triển nguồn nhân lực[1J [6jJ ~ Phát triển là sự vận động theo chiều hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. ~ Phát triển NNL là các hoạt động nhằm chuẩn bị cho nhân viên theo kịp với cơ cấu tô chức khi nó thay đổi và phát triển.
~ Phát triển nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhiệm được một công việc nhất địi ~ Phát triển nguồn nhân lực là truyền đạt các kiến thức, thay đổi quan điểm, nâng cao kỹ năng thực hành cho người lao động trong tương la ~ Phát t à quá trình biến đổi, hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao. Là quá trình học tập, nhằm mở ra cho cá nhân những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai cho tổ chức. Trong khi đó, quan niệm của Tổ chức giáo dục - khoa học và văn hoá của LHQ (UNESCO): Phát triển nguồn nhân lực được đặc trưng bởi toàn bộ sự lành nghề của dân cư, trong mối quan hệ phát triển của đất nước. - Theo tổ chức phát triển công nghiệp LHQ (UNIDO): Phát n con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu vừa là đối tượng của sự phát triển của một quốc gia.
Nó bao gồm mọi khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội như nâng cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đảo tạo nghiên cứu và hoạt động thực tiễn. ~ Tổ chức Lương thực và nông nghiệp LHQ (FAO): Sự phát triển nguồn nhân lực như một quá trình mở rộng các khả năng tham gia hiệu quả vào phát triển nông thôn, bao gồm cả tăng năng lực sản xuất. ~ Quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Phát triển nguồn nhân lực bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh ngành nghề, hoặc ngay cả việc đào tạo nói chung. Quan niệm này dựa trên cơ sở nhận thức rằng, con người có nhu cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như những thoả mãn về nghề nghiệp và cuộc.
Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung nâng cao kiến thức trong quá trình sống, làm việc, nhằm đáp ứng kỳ vọng của con người. Như vậy, phát triển NNL là quá trình gia tăng, biến đổi đáng kẻ về chất lượng của nguồn nhân lực và sự biến đổi này được biểu hiện ở việc nâng cao. năng lực và động cơ của người lao động. Thực chất của việc phát triển nguồn nhân lực là tìm cách nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực đó.
Nói cách khác, nếu tăng quy mô quan tâm đến việc tăng số lượng nguồn nhân lực, thì phát triển nguồn nhân lực quan tâm đến chất lượng của nguồn nhân lực đó. Nâng cao chất lượng NNL là quá trình tạo lập và phát triển năng lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ kinh tế, xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người; nó là kết quả tổng hợp của cả 03 bộ phận cấu thành gồm: Giáo dục, Đào tạo và Phát triển. Ở đây, giáo dục được hiểu là các hoạt động học tập, để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp, hoặc chuyển sang. nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai.
Cần chú ý rằng, năng lực của người lao động ở đây được thê hiện ở kiến thức, kỹ năng và hành vi thái độ của người lao động đó, và ứng với mỗi mục. tiêu công việc, cần một loại năng lực nhất định. Năng lực của người lao dong [6] Năng lực là khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất tốt và trình độ chuyên môn tốt. Năng lực người lao động là tổng hòa của các yếu tố kiến thức, kỹ năng hành vi và thái độ góp phần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi người Năng lực của mỗi người không giống nhau, nó được hình thành trong quá trình phát triển của con người trong xã hội.
Nghĩa là có bao nhiêu hình thức hoạt động của con người thì có bấy nhiêu loại năng lực. Trong mỗi chuyên ngành còn biểu hiện năng lực ở mỗi góc độ đảm nhiệm khác nhau. Biết được khả năng của người đó, lãnh đạo sẽ giao nhiệm vụ tương xứng để trong một thời gian nhất định như nhau họ sẽ hoàn thành công việc tốt hơn người khác. Nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước 1.
Cơ quan hành chính nhà nước. Con định nghĩa khác nhau về cơ quan hành chính nhà nước, nhưng có thể hiểu như sau: Cơ quan hành chính nhà nước là một loại cơ quan trong bộ. máy nhà nước được thành lập theo hiến pháp và pháp luật, để thực hiện quyền lực nhà nước, có chức năng quản lý hành chính nhà nước trên tắt cả các lĩnh vực của đời sông xã hội. Cơ quan hành chính nhà nước có những đặc điểm sau: ~ Các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập đề thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, nghĩa là thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành.