Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại công ty TNHH Dược Phẩm Khang Duy. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phát triển nguồn nhân lực tại tại công ty TNHH Dược Phẩm Khang Duy. CO SO LY THUYET VE PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC 1.1 MOT SO KHAI NIEM CO BAN 1.1 Nguồn nhân lực Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực: ‘Theo Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Trong doanh nghiệp, theo GS.TS Bùi Văn Nhơn trong sách “Quản lý và Phát triển nguồn nhân lực xã hội” xuất bản 2006 “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong. doanh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [1, tr.72] Trong giáo trình phát triển nguồn nhân lực của Đại học kinh tế Quốc Dân, do PGS.TS Vũ Hoàng Ngân và TS. Phạm Thị Bích Ngọc đồng chủ biên (2019) thì “Nguồn nhân lực hay còn gọi là nguồn lực con người bao gồm tất cả con người làm việc trong một tổ chức” [19, tr.
Còn trong sách Quản trị nhân sự của TS.Nguyễn Hữu Thân xuất bản năm 2012 thì “Nguồn nhân lực bao gồm tắt cả mọi cá nhân tham gia bắt cứ hoạt động nào của tổ chức, bat ké vai trò của họ là gì” [10, tr. Trong giáo trình phát triển nguồn nhân lực của Đại học kinh tế Quốc Dân, do PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân và Th.s Nguyễn Vân Điềm đồng chủ biên (2013) thì '“Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tắt cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực là được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm trí lực và thể lực” [13, tr.8] Còn theo Bộ Luật Lao động thì nguồn nhân lực của xã hội bao gồm những người trong độ tuôi lao động và ngoài độ tuổi lao động nhưng có khả năng hoặc sẽ tham gia lao động. Số lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và độ tuổi lao động, chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào sự nghiệp giáo dục đào tạo và thê chất người lao động, yếu tố di truyền, nhu cầu sử dụng lao động ở địa phương. Với các tiếp cận quan điểm này cho ta cái nhìn toàn diện hơn về nguồn nhân lực, coi nguồn nhân lực không chỉ trên góc độ số lượng (nguồn lực lao động) mà còn cả về chất lượng.
Vi vay, trong luận văn này, khái niệm nguồn nhân lực được hiểu như sau: nguồn nhân lực là toàn bộ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp, bắt kì họ ở trị trí nào.2 Phát triển nguồn nhân lực Khi đề cập đến phát triển nguồn nhân lực trong một tổ chức, ta cần phải trả lời hai câu hỏi: (1) Phát triển con người là gì? Và (2) Loại hình phát triển nào tổ chức đang thực sự hướng tới [31] Từ khái niệm nguồn nhân lực, chúng ta có thể hiểu về phát triển con người là đề cập tới sự cải thiện hoặc nâng cao vẻ kiến thức, kỹ năng, thái độ của con người nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức. Xét ở góc độ vi mô, tức là phát triển cá nhân, sự phát triển sẽ không thể nào có được nếu con người không tham gia vào các hoạt động đào tạo. Tức là phát triển nguồn nhân lực là hướng tới các hoạt động đảo tạo mang tính hệ thống, định hướng cá nhân nhằm kỹ nâng cao kiến thức, kỹ năng và cãi thiện hành vi. Xét ở góc độ vĩ mô, phát triển con người trong một tổ chức là nhằm hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động vì lợi ích của tô chức, hiệu suất cao.
hơn, khả năng cạnh tranh tốt hơn và lợi nhuận lớn hơn. Sự phát triển nguồn 10 nhân lực này sẽ không diễn ra nếu môi trường làm việc và hệ thống các công, cụ tạo động lực không có sự thay đôi để nâng cao hiệu suất lao động cũng như tạo ra nên tảng ban đầu cho sự phát triển của tô chức. 'Về khái niệm phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi tô chức, còn được nhiều học giả bàn đến và cách tiếp cận khác nhau như: Phát triển nguồn nhân lực là việc nghiên cứu các cá nhân và nhóm thay đối tổ chức như thế nào thông qua học tập [21]. Khái niệm này nhắn mạnh về việc thay đổi cá nhân và nhóm khi tham gia vào quá trình đào tạo mà chưa thể hiện việc phát triển nguồn nhân lực phải gắn liền việc phát triển tổ chức.
Phát triển nguồn nhân lực tập trung vào mục tiêu trung tâm phát triển tiềm năng con người trong mỗi khía cạnh của học tập suốt đời [41] Khái niệm này chỉ nêu cao vai trò của việc phát triển cá nhân thông qua quá trình học tập mà chưa nêu cao vai trò của tổ chức tác động đến cá nhân. Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển sự thành thạo con người thông qua đào tạo và phát triển, và phát triển tổ chức với mục đích cải thiện kết quả [40]. Khái niệm này thể hiện việc phát triển nguồn nhân lực là tập hợp các hoạt động có hệ thống và kế hoạch của tổ chức nhằm cung cấp cho các thành viên các cơ hội có thẻ học tập các kỹ năng cần thiết cần thiết đáp ứng yêu cầu của công việc hiện tại và tương lai. Theo “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đảo tạo, kinh nghiệm Đông Á” của Viện kinh tế thế giới, xuất bản 2003 thì “Phát triển nguồn nhân lực là hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thê lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất.
Kiến thức có được nhờ quá trình đảo tạo và tiếp thu kinh nghiệm, trong khi đó thể lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế”. 1 Còn theo giáo trình Phát triển nguồn nhân lực của Vũ Hoàng Ngân (2019), đó là “phát triển nguồn nhân lực là sự hợp nhất giữa đảo tạo và phát triển, phát triển sự nghiệp và phát triển tổ chức” [19, tr. Theo định nghĩa thì bên cạnh hoạt động đào tạo và phát triển là phần quan trọng của phát triển nguồn nhân lực thì các hoạt động phát triển sự nghiệp, phát triển tổ chức cũng. là khía cạnh không thể bỏ qua.
Phát triển nguồn nhân lực được bắt đầu từ khi người lao động vào tổ chức và tiếp tục phát triển sự nghiệp bất kể họ là lãnh đạo hay nhân viên. Đây được xem là định nghĩa tổng quan nhất về phát triển nguồn nhân lực. Trong luận văn này tác giả sẽ chọn cách tiếp cận nội dung. phát triển nguồn nhân lực theo định nghĩa này.3 Mục đích của phát triển nguồn nhân lực Mục đích của phát triển nguồn nhân lực tập trung vào nguồn lực về con người nhằm mang lại thành công cân bằng cho cá nhân và tổ chức, đặc biệt chú trọng đến hai vấn đề chính là học tập và kết quả cho cả cá nhân và tổ chức.
Và mục đích cuối cùng là tao ra những thay đổi giúp cải thiện hiệu suất làm việc và tô chức hoạt động đề phát triển doanh nghiệp. Nadler and Wiggs (1986) cho rằng, mục đích của phát triển nguồn nhân lực là tạo ra sự khác biệt. Nói một cách khác, các hoạt động đào tạo, hệ thống. phát triển sự nghiệp, những can thệp hiệu suất lao động và những đề xuất thay đổi sẽ góp phần nâng cao hiệu suất lao động, giảm thiểu chỉ phí.
chất lượng và khả năng cạnh tranh của tô chức.2 QUA TRINH PHAT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỰC 1.1 Đánh giá nhu cầu phát triển nguồn nhân lực Để đánh giá nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, ta cần xem xét tiến hành ba phân tích như sau: phân tích tổ chức, phân tích công việc va phân tích cá nhân. Phân tích tổ chức. 12 Khi tiến hành phân tích tỗ chức, ta cần xem xét: liệu các hình thức phát triển nguồn nhân lực có mối liên hệ với mục tiêu, chiến lược của công ty; liệu nhà quản lý, người lao động có quan tâm và ủng hộ các hình thức phát triển hay không và những nguồn lực mà tô chức danh cho hình thức phát triển là gì. Cụ thể, cần tìm hiểu rõ những vấn đề sau: Mục tiêu, chiến lược của tổ chức trong ngắn và dài hạn.
Những doanh nghiệp kỳ vọng các hình thức phát triển nguồn nhân lực sẽ đóng góp nhiều vào chiến lược và mục tiêu của tổ chức sẽ đầu tư nhiều thời gian và tiền bạc hơn cho hoạt động phát triển nguồn nhân lực. Nhu cầu nguồn nhân lực * cả về chất và lượng” để có thể thực hiện thành công các mục tiêu trên, đồng thời đánh giá “cung” nguồn nhân lực từ nội bộ cũng như thị trường ngoài. Sự ủng hộ, tâm thế của Ban lãnh đạo, người quản lý và người lao động đối với các hoạt động phát triển nguồn nhân lực. Một số nghiên cứu cho thấy rằng sự hỗ trợ, sự nhiệt tình và động lực của người quản lý và người lao động đối với các hình thức phát triển nguồn nhân lực là rất quan trọng.
Nếu người quản lý có thái độ và hành vi không ủng hộ, người lao động sẽ không có nhiều cơ hội áp dụng nội dung của các hình thức phát triển cho công việc của họ. Nhận thức về nguồn lực sẵn có của tổ chức dành cho hoạt động phát triển nguồn nhân lực như tài chính, thời gian, con người, và cơ sở vật chất phục vụ các hình thức phát triển nguồn nhân lực. Nhận thức về nguồn lực của tổ chức đóng vai trò khá quan trọng trong việc đánh giá nhu cầu phát triển nguồn nhân lực. Rõ ràng, kinh phí mà tổ chức có thẻ có cho hoạt động phát triển là yếu tố quan trọng quyết định nỗ lực của phát triển nguồn nhân lực.
Ngoài ra, hiểu biết về cơ sở vật chất, tài liệu và chuyên môn trong tổ chức cũng ảnh hưởng đến cách thức tô chức các hoạt động phát triển nguồn nhân 13 lực. Nguồn nhân lực sẵn có còn có thể ảnh hưởng đến quyết định một số lựa chọn đáng xem xét khi thiết kế và thực hiện các chương trình phát triển nguồn nhân lực và có thể ảnh hưởng đến các ưu tiên cho nhu cầu phát triển nguồn nhân lực b.