Chương 1. Một số vấn đề về ngân hàng thương mại, phát triển dịch vụ ngân hàng và dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện Chương 2. Thực trạng phát triển dịch vụ Tiết kiêm Bưu điện thông qua hệ thống các Bưu cục của NH TMCP Bưu điện Liên Việt. Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng thông qua hệ thống Tiết kiệm Bưu điện tại NH TMCP Bưu điện Liên Việt 6.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Đề tài đi sâu vào nghiên cứu lý thuyết của loại hình dịch vụ tỉ bưu điện, một loại dịch vụ ngân hàng được phát triển thông qua hệ thống các Buu cục và mô hình ngân hàng mới lần đầu xuất hiện tại Việt Nam — Mô hình Ngân hàng Bưu điện. Đồng thời nghiên cứu thực trạng, các nhân tố bên ngoài và bên trong tác động đến sự phát triển của loại hình dịch vụ này tại Việt Nam, nghiên cứu mô hình tương tự tại các nước bạn để đưa ra những giải pháp trước mắt và lâu dài cho NH Bưu điện Liên Việt trong hiện tại và tương lai để phát huy tối đa hiệu quả kinh doanh theo đúng định hướng trở thành “Ngân hàng của mọi người”. Tổng quan tài liệu Trước khi sát nhập và chịu sự quản lý của NH TMCP Bưu điện Liên Việt, dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện - hiện thân cho dịch vụ ngân hàng thông qua hệ thống các Bưu cục hiện tại được cung cấp và quản lý trực tiếp bởi Công ty dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện, trực thuộc Tổng công ty Bưu chính — Viễn thông Việt Nam. Do đó, các đề tài nghiên cứu liên quan đến việc phát triển dich vụ này trước đây đa phần đều chỉ nghiên cứu tập trung việc phát triển địch vụ tại Tổng công ty Bưu chính Việt Nam.
Luận văn lần này đi sâu vào nghiên cứu ở một khía cạnh khác. Đó là việc đưa ra những giải pháp nhằm phát triển các dịch vụ ngân hàng thông qua hệ thống các Bưu cục của một mô hình ngân hàng hoàn toàn mới ở Việt Nam, mô hình Ngân hàng kết hợp với Bưu điện - Ngân hàng Bưu điện Liên Việt Tác giả đã thu thập một số thông tin qua các rang web và sách báo, tạp chí Ngân hàng về các mô hình Ngân hàng Bưu điện tại những nước khác như Nhật Bản, Trung Quốc, Đức và Singapore để rút ra bài học ứng dụng cho mô hình này tại Việt Nam Để phục vụ cho việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã dựa vào các văn bản pháp quy của Chính phủ quy định về dịch vụ Tiết Kiệm Bưu điện được áp dụng vào thời điểm hiện tại như : - “Quyết định số 215/1998/QĐ-TTg ngày 04/11/1998 của Thủ tướng Chính phủ vẻ việc tổ chức huy động, quản lý và sử dụng nguén vốn tiền gửi tiết kiệm bưu điện, Thủ tướng chính phủ (1998). - “Công văn số 244/TTg - ĐMDN đồng ý dé Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (VnPost) góp vốn vào Ngân hàng TMCP Liên Việt (LienVietBank) bằng giá trị Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện (VPSC) ”, Thủ tướng chính phủ, 2011 ~_ “Luật các tổ chức tín dụng”, Quốc hội khóa X (1997). - “Luật sửa đổi, bồ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng”, Quốc hội khóa XI (2004) -_ “Hệ thống các văn bản Tiết kiệm Bưu điện ”, Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện (2008) Tác giả cũng đã thu thập và nghiên cứu số liệu thông qua: “Báo cáo rài chính đã được kiểm toán”, 2011, 2012 của Chỉ nhánh Tiết kiệm Bưu điện (Chỉ nhánh chịu trách nhiệm chính về việc quản lý dịch vụ Tiết kiệm bưu điện) đê đưa ra những nhận định khách quan về thực trạng của dịch vụ này tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt.
Bên cạnh việc nghiên cứu lý thuyết và thực trạng của dich vụ Ti bưu điện hiện tại, tác giả còn đi sâu vào nghiên cứu các tài liệu về: ~_“Dịch vụ ngân hàng trong kinh doanh Bưu chính Viễn thông”, Phan Văn Thường (2002), NXB Bưu điện và ~ “Quản trị ngân hàng thương mai”, Peter S.Rose (2004), NXB Tai Chính. - “Phân tíh hoạt động kinh doanh ngân hàng”, PGS.TS Tô Ngọc Hung (2012), NXB Thống Kê. - “Báo cáo kết quả chuyên dé nghiên cứu phát triển các dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện ”, Viện kinh tế Bưu điện (2002) 'Và dựa vào bảng điều tra khảo sát thực tế, trực tiếp đối với khách hàng, để có thể đưa ra những nhận xét riêng và đóng góp ý kiến nhằm ứng dụng dịch vụ ngân hàng hiệu quả tại mô hình mới được thành công. CHUONG 1 MOT SO LY LUAN VE NGAN HANG THUONG MAIL, PHAT TRIEN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VÀ DỊCH VỤ TIẾT KIỆM BƯU ĐIỆN 1.
KHAI QUAT VE NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Theo Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam thông qua ngày 12/12/1997 định nghĩa: “ Ngân hàng thương mại là một loại hình Tổ chức tín dụng được. thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại a.
Hoạt động huy động vốn NHTM tiến hành các hoạt động nghiệp vụ của mình không chỉ bằng nguồn vốn tự có mà chủ yếu bằng nguồn vốn huy động từ khách hàng. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn trong tông tài sản của NH. Vì vậy, các NH phải bỏ ra một khoản phí để mua “quyền sử dụng” các khoản tiền này với nghĩa vụ hoàn trả kịp thời và đầy đủ khi KH yêu cầu. Do đó, hoạt động huy động vốn hiệu quả đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo các hoạt động của NH diễn ra bình thường, cung cấp nguồn vốn dồi dào cho nền kinh tế.
Hoạt động cho vay và đầu tre Với nguồn vốn huy động được sau khi dự trữ tiền mặt nhằm đáp ứng. nhu cầu rút tiền và thanh toán thường xuyên của KH thì các NH tiến hành cho. vay và đầu tư. Tuy nhiên, cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt của các NHTM.
Hoạt động này có hiệu quả sẽ bù đắp phần chỉ phí huy động vốn và dự trữ tiền mặt bên cạnh các nguồn thu từ đầu tư và tạo cho NH một phần thăng dư, đảm bảo cho các NHTM ngày càng phát triển. Hoạt động cho vay của NH rất phong phú và đa dạng. e- Các hoạt động khác Ngoài hai hoạt động chính, các NHTM còn có những hoạt động khác như: dịch vụ thanh toán, dịch vụ bão lãnh, kinh doanh ngoại tệ, đại lý, tư vấn, thông tin, giữ hộ chứng từ, vật quí giá. Có huy động vốn thì mới có nguồn vốn để cho vay, đầu tư nhưng để nguồn vốn vay đó hoạt động hết hiệu quả thì phải biết phát huy tốt các dịch vụ NH khác.
Vì vậy, các hoạt động kinh doanh được thể hiện dưới hình thức nào thì chúng vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động, hỗ trợ qua lại nhằm đem lại uy tín và tối đa lợi nhuận hóa cho NH. DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng Hệ thống DVNH đang ngày càng được hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của chủ thể trong nền kinh tế. Tuy nhiên vẫn chưa có một khái niệm chung thống nhất về dịch vụ NH trên thế giới.
Theo cách định nghĩa của WTO đưa ra thì: “Một dịch vụ tài chính là bất kỳ địch vụ nào có tính chất tài chính được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)” [1, tr. Ở nước ta, theo tác giả Trịnh Bá Tửu, DVNH đang được hiểu theo hai quan điểm khác nhau: “Theo nghĩa hẹp, DVNH chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng truyền thống của định chế tài chính trung gian (huy động vốn và cho vay) Theo nghĩa rộng, lĩnh vực DVNH là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối.của hệ thống ngân hàng dối với doanh nghiệp và công chúng. Trong này, không bao gồm các hoạt động tự làm cho mình của các tổ chức tín dụng” [17, tr.
Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng a. Tinh vo hinh DVNH nó là sản phẩm trừu tượng, vô hình. Chúng ta không thê cảm nhận được dịch vụ bằng các giác quan thông thường, không thể sờ, nắm, ngửi, thấy, nếm, nghe, cảm thấy trước khi chúng được bán. Do đó, nó rất khoe mô tả, định giá, trưng bày, phân phối.
Vì vậy nó rất khó trong việc định giá địch vu cho KH. Tính không thể tách biệt Là đặc điểm phát sinh do quá trình cung cấp dịch vụ và quá trình tiêu dung dịch vụ xảy ra đồng thời. Mặt khác, quá trình cung ứng dịch vụ này được tiến hành theo những quy định nhất định, không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho, mà sản phẩm được cung ứng trực tiếp cho người sử dụng khi và chỉ khi KH có nhu cầu và đáp ứng được những điều kiện của nhà cung cấp. Đặc tính này sẽ chỉ phối việc xác định giá cả dịch vụ (lãi, phí) nhằm đảm bao cả người sử dụng và tổ chức cung ứng dịch vụ cùng tồn tại, cùng có lợi và phát triển bền vững.
Tinh không ổn định và khó xác định Vì một sản phẩm DVNH dù lớn hay bé (xét về quy mô) đều không đồng nhất về thời gian, cách thức, điều kiện thực hiện vì vậy rất khó xác định Chất lượng của mỗi sản phâm DVNH được cấu thành bởi nhiều yếu tố như uy tín của nhà cung cấp, công nghệ, trình độ cán bộ, KH,.trong đó, đặc biệt quan trọng là uy tín của bản than nhà cung cấp dịch vụ. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chát lượng dịch vụ, nhưng thường xuyên biến động và rất khó lượng hóa. Do vậy nó không ổn định, khó xác định chính xác. Phát triển dịch vụ Ngân hàng a.
Khái niệm về phát triển dịch vụ Ngân hang Phát triển dịch vụ ngân hàng là việc mở rộng số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng nhằm làm thoả mãn ngày càng tốt nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đảm bảo các mục tiêu của ngân hàng. Phát triển dịch vụ ngân hàng là một nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của các ngân hàng thương mại. Vậy phát triển dịch vụ ngân hàng theo hướng nào?