Chương 1 — Cơ sở lí luận về sự hài lòng công việc. - Chương 2 ~ Mô hình và thiết kế nghiên cứu. ~ Chương 3 — Kết quả nghiên cứu. - Chương 4 — Kết luận và kiến nghị.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để có một cái nhìn tổng thể về hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực này, những nghiên cứu về sự hài lòng trong công việc của nhân viên được. trình bày tóm tắt qua một số khảo sát, nghiên cứu, tài liệu có liên quan: - Ung dụng Lý thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) và sự hài lòng. công việc: Để xây dựng học thuyết hai nhân tố, Herzberg đã tiến hành phỏng. van 203 nhân viên kế toán và kỹ sư tại Mỹ.
Theo Herzberg, các nhân tô liên quan đến sự thỏa mãn đối với công việc được gọi là nhân tố động viên (Motivator) ~ nhân tố bên trong. Các nhân tố liên quan đến bát mãn được gọi là các nhân tố duy trì (Hygiene Factors) nhân tố bên ngoài. Sau này, Ping du và cộng sự (2010) đã phân tích sự hài lòng công việc của đội ngũ nhân viên trong chín trường Đại học của Trung Quốc và thấy rằng các giáo sư đại học Trung Quốc thể hiện sư hài lòng cơ bản về công việc. Tuy nhiên có sự bất mãn cao với mức lương.
Hơn nữa, nghiên cứu này phát hiện rằng các giáo sư hài lòng với các dịch vụ và cơ sở vật chất phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy. Hill (1986), Blezek (1987) nghiên cứu sự hài lòng của giảng viên đại học với quan điểm lý thuyết hai yếu tố của Herzberg, cả hai nghiên cứu trên đều cho thấy rằng các yếu tố nội tại góp phần chủ yếu trong việc làm hài lòng trong khi các yếu tố bên ngoài dẫn tới sự không hài lòng trong công việc. Lý thuyết Herzberg cũng được áp dụng trong các viện nghiên cứu của Malaysia, nghiên cứu cho thấy rằng chính sách và tiền lương là nguồn gốc chính của sự hài lòng công việc; trong khi điều kiện làm việc và mối quan hệ giữa các cá nhân lại đóng góp lớn cho sự không hài lòng như thảo luận của Wong và Heng (2009). Từ lý thuyết hai yếu tố của Herzberg, ta rút ra các yếu tố tác động đến sự hài lòng của nhân viên: + Công việc: ý nghĩa, trách nhiệm + Sự công nhận: đánh giá, thành tích, + Sự phát triển: sự thăng tiến, phát triển nghề nghiệp, chính sách đào.
tạo của công ty + Lương + Điều kiện làm việc: cơ sở vật chất, sự an toàn. + Mối quan hệ trong công ty: với cấp trên, đồng nghiệp. - Nghiên cứu của Boeve (2007): Boeve (2007) đã tiến hành cuộc nghiên cứu sự thỏa mãn công việc của các giảng viên khoa đào tạo trợ lí bác sỹ ở các trường y tá Mỹ trên cơ sở sử dụng lí thuyết hai nhân tố của Herzberg. và chỉ số mô tả công việc của Smith, Kendall & Hulin.
Theo đó, nhân tố sự thỏa mãn công việc được chia làm hai nhóm: nhóm nhân tổ nội tại gồm bản chất công việc và cơ hội phát triển thăng tiến; nhóm nhân tố bên ngoài gồm. tiền lương, sự hỗ trợ của cấp trên và mối quan hệ với đồng nghiệp. Trong nghiên cứu này của Boeve, các thống kê mang tính định lượng đã được áp dụng như hệ số Alpha Cronbach, hệ số tương quan Spearman và hồi quy tuyến tính. Nhìn chung, người trả lời hài lòng nhất với mối quan hệ với đồng nghiệp và ít hài lòng nhất với mức lương.
Kết quả phân tích tương quan của năm nhân tố trong JDI đối với sự thỏa mãn công việc nói chung đã cho thấy nhân tố bản chất công việc, mối quan hệ với đồng nghiệp và cơ hội phát triển là có tương quan mạnh nhất với sự thỏa mãn công việc trong khi sự hỗ trợ của cấp trên và lương bồng có tương quan yếu đối với sự thỏa mãn công việc của các giảng viên. Phân tích hồi quy đã cho thấy ngoài bốn nhân tố là bản chất công việc, mối quan hệ với đồng nghiệp, cơ hội phát triển và sự hỗ trợ của cấp trên, thời gian công tác tại khoa cũng ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của giảng viên (càng gắn bó lâu dài với khoa càng cảm thấy thỏa mãn công việc) Trong các nhân tô ảnh hưởng được xét trong nghiên cứu này thì bản chất công việc là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến sự thỏa mãn công việc nói chung. ~_ Nghiên cứu của Boondarig Ronra và cộng sự (2009): Nghiên cứu của Boondarig Ronra và cộng sự (2009) nhằm đánh giá các nhân tố ảnh hưởng. đến mục tiêu và sự hài lòng công việc của nhân viên tại khách sạn và khu nghỉ dường Amari, Thái Lan.
Trong nghiên cứu này, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc bao gồm: Môi trường làm việc, Thành tich,Duge công nhận, Cơ hội thăng tiến, Sự tiến bộ, Trách nhiệm, Đặc điểm công việc. Kết quả cho thấy, những người được hỏi đồng ý rằng họ hài lòng với công việc tại khách sạn. Cơ hội thăng tiến là yếu tố có tác động mạnh nhất tới sự hài lòng công việc, tiếp theo là các yếu tố môi trường làm việc, yếu tố được công nhận, yếu tố đặc điểm công việc, yếu tố thành tích, yếu tố trách nhiệm và yếu tố tiến bộ. Phân tích hồi quy được tiến hành, cho thấy các yếu tố môi trường làm việc, cơ hội thăng tiến, đặc điểm công việc có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hài lòng (p<0.
- Nghiên cứu của Hunjra Ahmed Imran và cộng sự (2010): Nghiên cứu này nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của người lao động trong lĩnh vực Ngân hàng tai Pakistan Theo Imran và cộng sự (2010) thì có ba nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự. hài lòng công việc đó là: sự tự chủ, cách thức lãnh đạo và nhóm làm việc. Kết quả cho thấy, sự hài lòng công việc tương quan thuận với quyền tự chủ khi hệ số tương quan là 0.377; cách thức lãnh đạo cũng có liên quan tích cực với sự hài lòng và có ý nghĩa thống kê với hệ số tương quan là 0.476; giá trị hệ số tương quan Pearson là 0.518 cũng cho thấy nhóm làm việc và sự hài lòng có liên quan tích cực. Do đó, ta có thể nói sự hài lòng tương quan tích cực và đáng kể với tất cả ba biến độc lập.
Kết quả phân tích hồi quy cho sự hài lòng công việc với giá trị R-square và F -statistic lần lượt là 0.720 cho thấy mô hình có ý nghĩa với mức ý nhĩa là 5% (p<0.05) và kết quả này cũng cho thấy mối quan hệ tích cực giữa biến phụ thuộc và biến độc lập. - Nghiên cứu của Nasir Mehmood và cộng sự (2012): Mehmood và các cộng sự (2012) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên trong ngành công nghiệp dịch vụ ở Pakistan với mẫu là 324. Các biến độc lập được lựa chọn là: Lương và phúc lợi, Thăng làm việc, Quyền tự chủ. Kết quả thống kê cho thấy các biến độc lập như tiền lương và phúc lợi, thăng tiến, điều kiện làm việc và quyền tự chủ ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên.
Trong đo, yếu tố môi trường làm việc chiếm ưu thế trong việc làm hài lòng. - Nghiên cứu của Ethica Taijeen (2013): Ethica Taijeen (2013) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của ngành công. nghiệp viễn thông tại Bangladesh. Mô hình nghiên cứu về sự hài lòng của người lao động trong công việc bao gồm các yếu tố: điều kiện làm việc, tự do hoặc tự chủ, đảm bảo công ấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, tiền lương, cơ Kết quả cho thấy, nhìn chung các yếu tố dẫn đến với đồng nghiệp và tiền lương.
Các yếu tố dẫn đến sự hài lòng thấp nhất là tự do, mối quan hệ với cấp trên và thăng tiến 10 CHUONG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC Trong chương một này, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về sự hài lòng công việc qua những kết quả của các nhà nghiên cứu trước. Chương này gồm các phần: Lý thuyết về sự hài lòng công việc của nhân viên, một số lý thuyết làm cơ sở nghiên cứu, các nghiên cứu liên quan đến sự hài lòng công. việc của nhân viên của các nhà nghiên cứu khác, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên; từ đó rút ra những kết luận phục vụ cho việc xây dựng thiết kế nghiên cứu về sự hài lòng công việc của nhân viên. TONG QUAN VE SU HAI LONG CONG VIEC VA CAC YEU TO ANH HUONG DEN SỰ HAI LONG CONG VIEC 1.
Sự hài lòng công việc Các nhà nghiên cứu cho rằng nếu như nhân viên hài lòng với công việc thì năng suất làm việc sẽ tăng lên, cho dù giữa sự hài lòng của nhân viên và năng suất làm việc chỉ có mối tương quan ở mức trung bình ( laffaldano and Muchinsky, 1985). Có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự hài lòng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên tại nơi làm việc. Sự hài lòng này được định nghĩa và đo lường theo cả hai khía cạnh: hài lòng chung đối với công việc và hài lòng với từng thành phần của công việc. Định nghĩa vẻ sự hài lòng chung trong công việc Theo Vroom (1964), sự hai lòng trong công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tô chức.
Theo Locke (1976), sự hài lòng trong công việc được hiểu là người lao động thực sự cảm thấy thích thú với công việc của họ, là “trạng thái tình cảm. lạc quan hay vui vẻ có được từ sự đánh giá công việc của một người hay kinh nghiệm nghề nghiệp của người đó”. 11 Theo Quinn va Staines (1979) su hai lòng trong công việc là phản ứng tích cực với công việc. Wexley va Yukl (1984) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là cách mà một nhân viên cảm nhận về nghề nghiệp của họ.
Theo Spetor (1997), sur hai lòng trong công việc đơn giản là việc người ta cảm thấy thích công việc và các khía cạnh công việc của họ như thế nào. Con Ellickson va Logsdon (2001) thi cho ring dé là thái độ ( tích cực hay tiêu cực) dựa trên sự nhận thức về công việc hoặc môi trường làm việc Tức là môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì sự hai lòng với công việc càng cao.