Chương 1: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 2: Thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Chương 4: Hàm ý chính sách và hướng nghiên cứu tiếp theo. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 11.
DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng Trước hết, cần tìm hiểu khái niệm về dịch vụ. Theo Luật giá năm 2012 của Quốc hội tại Điều 4, Khoản 2: “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”. Các Mác định nghĩa: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển”.
Philip Kotler thì cho rằng, “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Như vậy, dưới những góc độ khác nhau, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu. Tuy nhiên có thể phát biểu: “Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người, không tổn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hóa nhưng có vai trò phục vụ nhu cầu của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định về dịch vụ ngân hàng nhưng, tuy nhiên không nêu ra định nghĩa mà đưa ra cụm từ “Hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng”, bao gồm các nội dung sau: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán tại điều 20, khoản I và khoản 7, “Là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung, ứng dịch vụ thanh toán”.
Chương 3 của Luật tổ chức tín dụng 2010 nêu các điều khoản về hoạt động ngân hàng được chia thành bốn mảng lớn, bao gồm: Huy động vốn, tín dụng, thanh toán và ngân quỹ và các hoạt động khác. b, Khái niệm dịch vụ ngân hàng cá nhân Hoạt động dịch vụ ngân hàng được chia làm 2 loại, bao gồm hoạt động, dịch vụ ngân hàng bán lẻ và dịch vụ ngân hàng bán buôn. Dịch vụ ngân hàng bán buôn là thuật ngữ dùng cho các giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng. lớn (công ty) hoặc giao dịch với những khoản tiền lớn (tiền gửi lên tới hàng.
trăm ngàn hoặc cho vay lên đến hàng triệu đô la Mỹ). Thuật ngữ bán buôn còn chỉ cả những giao dịch giữa các ngân hàng thực hiện qua thị trưởng liên ngân hàng tách biệt khỏi ngân hàng. Thị trường DVNHBL là một cách nhìn hoàn toàn mới về thị trường tài chính trong đó phần đông tầng lớp dân cư nhỏ lẻ sẽ được tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, tạo ra một thị trường tiềm năng đa dạng và năng động. Hiện nay, có nhiều khái niệm về DVNHBL với nhiều cách tiếp cận khác nhau: Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện công nghệ Châu A - AIT, dịch vụ ngân hàng bán lẻ là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chỉ nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông.
qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), dịch vụ ngân hàng bán lẻ là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng nơi khách hàng cá nhân có thẻ đến giao dịch tại các điểm giao dịch của ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như tiền gửi, tiền vay, thanh toán, kiểm tra tài khoản, dịch vụ thẻ. 10 Như vậy, Dịch vụ KHCN là những dịch vụ ngân hàng phục vụ đối tượng là khách hàng cá nhân, bao gồm dịch vụ huy động vốn, dịch vụ tín dụng, thẻ và thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử và Call Center. Dịch vụ KHCN được thiết kế đa dạng hóa dưới các hình thức sản phẩm phù hợp với nhu cầu của đối tượng KHCN, có những đặc điểm khác biệt so với dịch vụ ngân hang dành cho các khách hàng doanh nghiệp.
Các loại dịch vụ ngân hàng cá nhân a. Dịch vụ huy động vẫn Dịch vụ huy động vốn và dịch vụ tín dụng là hai nghiệp vụ cơ bản, quan trọng đầu tiên của NHTM, trong đó dịch vụ huy động vốn góp phần tạo nên nguồn vốn kinh doanh của NHTM. Vốn huy động có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng mở rộng kinh doanh của các ngân hàng, có xu hướng ngày cảng gia tăng đề phù hợp với xu hướng tăng trưởng của nền kinh tế. Ngân hàng huy động vốn từ các doanh nghiệp, tô chức kinh tế, cá nhân dưới hình thức nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá, trong đó dịch vụ huy động vốn từ KHCN chủ yếu dưới hình thức nhận tiền gửi.
Các hình thức tiền gửi của KHCN tại NHTM bao gồm: Tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn. Nguồn vốn của các KHCN không lớn lắm so với các tổ chức kinh tế hay doanh nghiệp nhưng số lượng KHCN đông đảo sẽ tạo nên nền tảng huy động vốn lớn cho. các NHTM Hiện nay, các NHTM phát triển nhiều sản phẩm tiền gửi cho các KHCN dưới nhiều hình thức, đa dạng về lãi suất và kỳ hạn cũng như hình thức lĩnh lãi. như tiết kiệm trả lãi trước, tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm rút Tỉnh hoạt,.
Ngoài ra KHCN có thê dùng số tiết kiệm làm tài sản cầm có để phát hành thẻ tín dụng, vay vốn,. Dịch vụ tin dung Bên cạnh dịch vụ huy động vốn thì dịch vụ tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu mang lại phần thu nhập lớn cho các NHTM. Dịch vụ tín dụng, cho KHCN chủ yếu là các sản phẩm cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, được đa dạng hóa theo mục đích cho vay như: cho vay kinh doanh, cho vay. tiêu dùng, cho vay sửa chữa nhà, mua nhà, cho vay mua ô tô, vay cầm cố số tiết kiệm, cho vay du học,.
Dịch vụ thẻ và thanh toán ~ Dịch vụ thẻ: 'Bên cạnh các dịch vụ truyền thống của NHTM dành cho KHCN, dịch vụ thẻ là một sản phẩm ngân hàng hiện đại, đem lại nhiều tiện ích cho KHCN. KHCN có thể sử dụng thẻ đề rút tiền, gửi tiền, chuyển khoản, vấn tin số dư và thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các tổ chức chấp nhận thẻ. Hiện nay các NHTM đã phát triển nhiều loại thẻ, tuy nhiên có hai loại thẻ chính là Thẻ ghi nợ (quốc tế, nội địa) và Thẻ tín dụng. Sản phẩm thẻ đã và đang được các NHTM nhìn nhận như một lợi thế cạnh tranh quan trọng trong các sản phẩm dịch vụ dành cho KHCN.
- Dịch vụ thanh toán: Dịch vụ thanh toán qua NH là thanh toán không dùng tiền mặt, được thực hiện dưới hình thức ngân hàng trích chuyển tiền từ ¡ khoản của khách. hàng này sang tài khoản của khách hàng khác theo yêu của chủ tài khoản chuyển, qua đó ngân hàng được hưởng một khoản phí nhất định. thức thanh toán mà NHTM đang áp dụng gồm có: Chuyển tiền trong nội bộ NH, thanh toán bù trừ liên NH, chuyển tiền đến NHTM khác và chuyển tiền qua NH nước ngoài. Các hình thức thanh toán bao gồm: Ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chỉ, séc, thẻ thanh toán, thư tín dụng.
Đối với KHCN hiện nay, dịch vụ thanh toán được sử dụng chủ yếu là dịch vụ chuyền tiền trong nội bộ ngân 12 hàng, liên ngân hàng. Các NHTM hiện đang day mạnh phát triển các dịch vụ thanh toán dành cho KHCN gồm có dịch vụ chỉ trả lương qua tài khoản cá nhân, dịch vụ nhận tiền kiều hồi, địch vụ thanh toán hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại,. mang lại nguồn thu đáng kể về phí cho các NHTM. Dịch vụ Ngân hàng điện tử và Call Center - Dich vụ Ngân hàng điện tử: Ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tin, dịch vụ NH điện tử đang được các NHTM nâng cấp, bồ sung, phát triển nhiều tiện ích để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.
Thông qua việc sử dụng mạng internet và mạng điện thoại, dịch vụ NH điện tử cho phép khách hàng thực hiện nhiều loại giao dịch tai bắt kỳ đâu có mạng internet, mạng điện thoại và máy tính/ điện thoại cá nhân mà không cần khách hàng trực tiếp đến NH, giúp tiết kiệm thời gian, chỉ phí của NH và khách hàng. Hiện nay các NH đã phát triển dịch vụ NH điện tử để khách hàng sử dụng trên máy tính (truy cập bằng trình duyệt web) và trên điện thoại di động (truy cập bằng app). Đi kèm với dịch vụ NH điện tử là dịch vụ mã xác thực cho các giao dịch tài chính dưới các hình thức: tin nhắn SMS (sử dụng mạng điện thoại), hard token (thiét bị vật lý điện tử hiện mã ngẫu nhiên), soft token (app chạy mã ngẫu nhiên trên điện thoại). Sử dụng dịch vụ NH điện tử, khách hàng có thể tra cứu thông tin về tài khoản, các sản phẩm dịch vụ, thông tin thẻ, số dư tiền gửi, tiền vay, cũng như thực hiện các giao dịch tài chính như chuyển tiền, gửi tiết kiệm điện tử, thanh toán hóa đơn dịch vụ.
Bên cạnh hình thức sử dụng mạng internet kết hợp với mạng điện thoại, NH còn cung cấp hình thức ngân hàng điện tử chỉ sử dụng mạng điện thoại di động, theo đó khách hàng dùng điện thoại di động nhắn tin theo mẫu, thực hiện các yêu cầu giao dịch, tuy nhiên hình thức này hiện nay chưa được phổ biển. ~ Dịch vụ hỗ trợ Call Center: 13 Là dịch vụ tông đài hỗ trợ của NH dành cho khách hàng hoạt động 24/7, NH cung cấp cho khách hàng số điện thoại để khách hàng gọi khi có nhu cầu được tư vấn thông tin về sản phẩm - dịch vụ, hoặc khi cần hỗ trợ khẩn cấp (khóa thẻ, khóa tài khoản.), có các thắc mắc, khiếu nại cần giải đáp hoặc. thực hiện một số giao dịch (kích hoạt thẻ, tra cứu thông tin tài khoản, thông tin giao dịch, tra soát giao dịch.