Chương 1: Cơ sở lý luận về chuẩn mực kế toán hàng tồn kho. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và một số kiến nghị về việc vận dụng. 'CMKT HTK tại các DN trên địa bản TP Đà Nẵng, 6 # quan tà lu nghiên cứu Chuẩn mực kế toán HTK để cập đến một bộ phận tài sản có giá trị lớn tại doanh nghiệp.
Việc xác định đúng, đủ giá gốc HTK déng vai trò quan trong trong quá trình quan lý, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, việc xác định đúng phải đủ giá gốc HTK theo quy định của chuẩn mực là việc không đơn giản. Việc trình bày khoán mục HTK trên báo cáo tải chính. Qua một số khảo sát, các doanh nghiệp chỉ trình bày trên báo cáo tài chính các chính sách kế toán áp dụng trong việc đánh giá HTK, gồm cả phương pháp tính giá trị HTK; gid tri dự phòng giảm giá HTK; giá trị hoàn nhập và trình bay chỉ phí về HTK trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh nhưng không thể hiện rõ những trường hợp hay sự kiện dẫn đến việc trích lập trích lập thêm.
hoặc hoàn nhập dự phòng giảm giá HTK. Trong tiền trình nghiên cứu và thực hiện đề tài: “ /Vghiên cứu việc vận dụng chuẩn mực hàng tôn kho tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà ¡ ing ”, trước tiên tác giả nghiên cứu các vấn đề quan như: Chuẩn mực n Việt Nam bao. các: Chuẩn mực chung số 01; Chuẩn. mực số - 02 HTK [I] và c: chuẩn mực liên quan; các thông tư hướng dẫn; chế độ kế toán [2]; chuẩn mực kế toán quốc tế và những vấn đề liên quan đến kế toán HTK cia DN.
Ngoài ra tác giả đã tham khảo các nghiên cứu như: Với nghiên cứu * Bàn về mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chế độ kế toán trong các. trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ”, Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 5 (40). 2010, tr 225 -233 của TS. Trin Dinh Khôi Nguyên [7] ‘Van đề đặt ra của nghiên cứu là đánh giá việc vận dụng các chuẩn mực sẽ ảnh.
hưởng như thế nào đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ. hướng đến điều tra những nhân tố có thể ảnh hưởng đến việc công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam trên các trang web. 'Hiện tại những nghiên cứu về các vằnđề liên quan đến chuẩn mực kế toán cũng khá ít. Chỉ có vải trang báo trên mạng đề cập đến vấn đề này nhưng.
không đủ đô tin cây cao và nội dung không cụ thể chỉ nói chung chung. 'Với những cơ sở lý luận trên và kế thừa các nghiên cứu trước, có thể thấy rằng, các nghiên cứu trước chỉ mới đi vào góc độ chung. Những vấn đề cụ thể trong từng chuẩn mực còn thực sự chưa xem xét hết. Vì fy, việc khảo sát chuẩn mực HTK - một loại tài sản phổ biến ở các DN có ý nghĩa thực tiễn.
CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHUAN MUC KE TOAN HANG TON KHO 1. ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI HÀNG TỒN KHO 1.1, Định nghĩa hàng tồn kho. ehi nhận một tải sản là HTK, không chỉ xem xét tài sản đó có thỏa mãn các tiêu chuẩn ghi nhận tài sản của DN mà còn xem đến tài sản mua vẻ sử dụng cho mục đích gì [8]. Theo CMKT HTK [2] thì HTK là những tài sản rơi vào một trong ba trường hợp sau: (1) Tai sản được mua về hoặc sản xuất ra nhằm mục đích bán ra trong ky sản xuất kinh doanh bình thường.
(2) Tài sản được mua về để sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh. hoặc cung cấp dịch vụ (3) Tải sản đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dé dang 1. Phân loại hàng tồn kho. Phân loại theo mục ích sử dụng ‘Theo cách này, HTK được chía thành 3 loại ~ Các loại dự trữ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của DN, Tùy 'theo công dụng kinh tế, loại tồn kho này gồm những loại sau: + Nguyên liệu và vật liệu: là những yếu tố tham gia vào quá trình sản.
Loại tồn kho này trong các doanh nghiệp sản xuất (DNSX) thường chia thành các loại sau: Nguyên liệu và vật liệu chính: lả những loại tồn kho hình thành nên thực thể sản phẩm ở DNSX. Ở một góc độ rộng, khái niệm nguyên liệu dùng để chỉ những sản phẩm của công nghiệp hoặc của nông nghiệp khai thác từ trong tự nhiên chưa qua khâu chế biến công nghiệp như quặng sắt, bông hạt. Vật liệu chính là sản phẩm đã được chế biến công nghiệp dùng làm đối tượng chế biến trong quá trình sản xuất 'Vật liệu phụ: là loại tồn kho có tác dụng kết hợp với nguyên liệu, vật liệu. chính để nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc để đảm bảo cho công cụ, dụng.
cụ hoạt động bình thường. Nhiên liệu: là loại tồn kho tạo ra nhiệt năng như xăng, dầu, khí ga, than. Các loại vật liệu khác: như phế liệu thải từ quá trình sản xuất hay thanh lý TSCĐ, các loại phụ tùng thay thế cho các loại phương tiện sản xuất Các loại vật liệu khác: như phế liệu loại thải từ quá trình sản xuất hay. thanh lý TSCĐ , các loại phụ tùng thay thé cho các loại phương tiện sản xuất, các loại vật tư phục vụ quá trình sản xuất ở doanh nghiệp nhưng không được.
xếp vào TSCĐ hay CCDC. + Công cụ, dung cụ: là những tư liệu lao động không dủ các tiêu chuẩn về giá trị hoặc thời gian sử dụng quy định di v6i TSCD. Ví dụ: các loại xô, châu, đồ bảo hộ hộ lao động sử dụng trong doanh nghiệp chế in hai san; ede loại xe đây, đồ nghề chuyên dùng trong doanh nghiệp xây lắp. Các loại kho trên đều có đặc trưng chung là có giá trị nhỏ nhưng lại tham gia vào nl chu kỳ kinh doanh nên được xếp vào CDDC.
Do những đặc điểm trên nên công tác quản lý CDDC cần kết hợp cả những đặc trưng quản lý nguyên vật liệu và quản lý T§CĐ. ~ Các loại dự trữ cho hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp. Thuộc loại nảy gồm có thành phẩm, bán thành phẩm có thể tiêu thụ trong DNSX, hoặc hàng hóa trong DNTM. Thành phẩm là kết quả cuối cùng của quy trình sản xuất trong các DNSX, đạt các tiêu chuẩn về chất lượng có thể bán cho khách.
Bán thành phẩm là sản phẩm đã hoàn thành một hoặc một vài giai đoạn chế biến (trừ giai đoạn cuối cùng) của quy trình công nghệ sản xuất của. DNSX, được nhập kho, chuyển sang giai đoạn sau để tiếp tục chế biến hoặc. có thể bán ra ngoài. Hàng hóa là những sản phẩm được mua vào để nhằm mục đích bán ra ở các DNTM.
~ Các loại sản phẩm vả dịch vụ dở dang. Trong DNSX, loại tồn kho này. là những sản phẩm đang chế tạo nên dây chuyền sản xuất, chưa hoàn thành. cquy trình công nghệ, chưa thể cung cấp cho khách hàng.
Nói chung, bộ phận tồn kho này sẽ cầu thành trong các loại dự trữ cho hoạt động tiêu thụ ở doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp dịch vụ, đó là những dich vụ còn đang trong quá trình cung cấp cho khách hàng chưa hoàn thành. Phân theo vj trí của hàng tần kho trong quá trình luân chuyển HTK của DN được chia thành các loại sau: ~ Hàng mua đang di đường: Là những vật tư, hàng hóa mà DN có quyền kiểm soát, nhưng các loại hàng này chưa về nhập kho ở DN do những đặc thù trong khâu cung ứng hay những quy định riêng rẽ trong khâu giao và cung cấp hàng hóa. ~ Hàng đang dự trữ tại kho, quầy của DN: gồm các loại nguyên vật liệu, CDDC, hang hóa, thành phẩm, sản phẩm dở dang đang được quản lý về mặt vật chất tại kho hay quầy hàng của DN.
Đây là những loại tồn kho sẵn sàng. phục vụ cho hoạt động sản xuất và tiêu thụ của DN. Sản phẩm dở dang cũng. được xếp vào nhóm tồn kho này.
~ Hàng gửi đi bán: Là những loại thành phẩm, hàng hóa xuất khỏi kho. của DN nhưng chưa được tiêu thụ. Về mặt vật chất, những loại hàng này không được quản lý ở kho của đơn vị. Tuy nhiên, DN vin có quyển kiểm soát những tài sản này cho đến khi chuyển phần lớn rủi ro và quyển sở hữu hoặc quyền kiểm soát cho khách hàng.
Quy mô của hàng gửi đi bán tùy thuộc vào. các thức tổ chức kênh phân phối trong hoạt động tiêu thụ của DN. quan ở DN đến HTK. Hệ thống này vì thế được sử dụng phổ biến ở nhiều.
DN, nhất là trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin. Hệ thống qu: hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ “Trong một số trường hợp, HTK của DN có rất nhiều, không thể theo dõi cụ thể giá trị cho mỗi lần xuất kho do hạn chế về khả năng xử lý số liệu. Để thay thể cho cách quản lý tồn kho trên, kế toán chỉ có thể phản ánh tình hình tồn kho đầu kỳ, tình hình mua vào và tỉnh hình tồn kho cuối kỳ qua kiểm kê thực tế. Quản lý HTK trong trường hợp này thuộc phương pháp kiểm kê định kỳ.
"Như vậy, phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi một cách thường xuyên, liên tục trên sổ kế toán tình hình biến động của từng loại hàng của DN. Khi áp dụng phương pháp này thì toàn bộ các loại vật tư, hàng hóa. mua vào đều được theo dõi qua tài khoản mua hàng. Trong kỳ, các khoản xuất kho vật tư, hàng hóa không được phản ánh vào các tài khoản HTK tương ứng mà cuối kỳ phải tiến hành kiểm kê thực tế của chúng để ghi vào các tài khoản HTK.
Phương pháp này áp dụng ở những DN có nhiều chủng loại vật tư, hàng hóa với mẫu mã khác nhau, có giá trị thấp. Hạn chế của phương pháp này là thất thoát vật tư, hàng hóa do quản lý lỏng lẻo sẽ không bị phát hiện vì số. lượng xuất dùng dé ghi chép dựa trên kiêm kê tồn kho thực tế. dụng phương pháp này, đòi hỏi phải tăng cường quản lý vật tư, hàng hóa tại kho, quầy, bến bãi Như vậy, căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh và khả năng xử lý.
thông tin, đơn vị có thể sử dụng một trong hai phương pháp trên và phải tuân 'thủ nguyên tắc quán. Dù vận dụng phương pháp nào đi nữa thì cuối kỳ cũng phải kiểm kê tồn kho thực tế. Kết quả kiểm kê trong phương pháp kiểm.