CHƯƠNG 1 MO HÌNH CONG TY MẸ - CÔNG TY CON: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUOC TE 1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình công ty mẹ - công ty con 1. Khái niệm về mô hình công ty mẹ - công ty con Mô hình công ty mẹ công ty con là một mô hình tổ chức sản xuất - kinh doanh được thực hiện bởi sự liên kết nhiều pháp nhân doanh nghiệp độc lập, hoạt động trong nhiều lĩnh vực và địa bàn khác nhau dé tao thế mạnh chung. Cơ cấu của mô hình này theo cơ cấu “tập đoàn cứng” khá phổ biến như ở nhiều nước trên thế giới và được hình thành tự nhiên theo yêu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, đồng thời hạn chế rủi ro của các doanh nghiệp.
Công ty mẹ trở thành công ty chủ xét theo khía cạnh tổ chức mạng lưới hoạt động của tập đoàn. Ở các nước, thông thường công ty mẹ được tô chức dưới hình thức công ty cổ phần, còn các công ty con được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Từ các công ty con có thé phát triển thành các công ty chau. Công ty mẹ chỉ phối công ty con về tài chính, thị trường, chiến lược kinh doanh, công nghệ, nhân lực, thương hiệu, nhãn hiệu.thông qua người đại diện của mình tại công ty con và bằng các công cụ khác.
Công ty mẹ bỏ vốn vào các công ty con với tư cách là nhà đầu tư và hưởng lợi tức tương ứng với sô vôn bỏ ra. Các quan hệ kinh tê giữa các đơn vị thành viên với công ty mẹ đều thông qua hợp đồng kinh tế dé thực hiện dự án, công trình hoặc thương vụ cụ thể. Để thấy rõ bản chất của mô hình này, trước hết cần làm rõ quan niệm về “Công ty mẹ” và “Công ty con”, trong đó cần làm rõ tư cách pháp nhân, đặc điểm về sở hữu, về quan niệm chi phối, kiểm soát của công ty mẹ đối với công ty. Mô hình công ty mẹ — công ty con là một loại hình tập đoàn kinh tế đã và đang được các tập đoàn đa quốc gia lớn áp dụng và mang lại nhiều hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh và cạnh tranh.
Chính vì vậy, nghiên cứu mô hình công ty mẹ — công ty con trước hết xuất phát từ việc nghiên cứu mô hình tập đoàn kinh tế. Quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội là quá trình thường xuyên đổi mới, phát triển về mặt tổ chức, quản lý của các tổ chức kinh tế theo hướng tập trung chuyên môn hoá trên cơ sở tích tụ và cạnh tranh. Từ các cơ sở, đơn vị sản xuất nhỏ, lẻ ban đầu qua các giai đoạn phát triển đã hình thành nên các xí nghiệp, công ty sản xuất theo từng lĩnh vực tập trung hàng dọc, các công ty sản xuất đa ngành nhiều lĩnh vực tập trung hàng ngang và cuối cùng hình thành các tập đoàn kinh tế với nhiều hình thức khác nhau có vai trò chỉ phối và tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế trong nước, trong khu vực và trên toàn thế giới như hiện nay. Sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế là sự phản ánh quy luật tất yếu khách quan của nền sản xuất xã hội.
Khi nói về tập đoàn kinh tế thường có những nhận thức chưa thống nhất với nhau, xét cả về mặt bản chất cũng như về cách thể hiện. Có quan điểm cho rằng tập đoàn kinh tế không phải là một hình thức pháp lý cụ thé, không có tư cách pháp nhân, không đăng ký kinh doanh đối với tập đoàn kinh tế mà chỉ đăng ký kinh doanh đối với từng doanh nghiệp tham gia tập đoàn. Vì vậy, không thể xác định được đâu là tập đoàn kinh tế và đâu không phải là tập đoàn kinh tế và cũng không có thống kê cụ thể nào về các tập đoàn kinh tế trên thế giới hay ở một quốc gia và vì vậy cũng không nên đưa ra khái niệm về tập đoàn kinh tế. Mặc dù vậy, trên thực tế dựa trên những cơ sở khác nhau mà ở các nước đã có những quan niệm khác nhau về tập đoàn kinh tế, thể hiện: Một số nước như Hà Lan, Anh, Đan Mạch cho rằng tập đoàn kinh tế được hiểu là sự liên kết giữa nhiều chủ thể kinh tế có chung lợi ích, có quan hệ sở hữu và khế ước với nhau, cùng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một hoặc nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực kinh tế.
Một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc cho rằng: Tập đoàn kinh tế là một nhóm doanh nghiệp với các mối liên kết nội bộ với nhau theo hình thức quản lý cài vào nhau hoặc một mức cễ phần chéo nhau nhất định và các hoạt động hợp tác. Quan điểm của Trung Quốc cho rằng: Tập đoàn kinh tế là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp, nó đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hoá XHCN và của nền sản xuất lớn xã hội hoá. Doanh nghiệp nòng cốt của tập đoàn là thực thể kinh tế có tư cách pháp nhân, tự chủ kinh doanh, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh. Từ điển Business English của Longman cho rằng: “Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các công ty độc lập về mặt pháp lý nhưng tạo thành một tập đoàn gồm một hay nhiều công ty hay chỉ nhánh góp vốn cô phan chịu sự kiểm soát của công ty mẹ”.
Có một số ý kiến cho rằng: Tập đoàn kinh doanh là tô hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay nhiều ngành khác nhau, trong phạm vi một nước hay nhiều nước, trong đó có một “công ty mẹ” nắm quyền lãnh dao, chỉ phối hoạt động của các “công ty con” về mặt tài chính và chiến lược phát triển. Tập đoàn kinh doanh là một cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận. Một số nhà luật học cho rằng mặc dù các tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không đăng ký kinh doanh nhưng dựa vào khung pháp lý đảm bảo cho hoạt động của các doanh nghiệp thành viên và cả tập đoàn kinh tế có hiệu quả và một số dấu hiệu khác có thể đưa ra khái niệm chung về tập đoàn kinh tế: Tập đoàn kinh tế được hiểu là sự liên kết của nhiều chủ thể kinh tế có chung lợi ích, có mối quan hệ sở hữu và khế ước với nhau, cùng tiến hành hoạt động kinh doanh trong một hoặc nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế, xét về bản chất đó là một tổ chức kinh tế vừa mang tính chất của một doanh nghiệp (kinh doanh vì mục đích sinh lời) vừa mang đặc trưng của một hiệp hội kinh tế (phục vụ lợi ích chung của các thành viên). Một số nhà khoa học về kinh tế khi đưa ra khái niệm về tập đoàn kinh tế thường dựa vào sự liên kết giữa các thành viên tham gia tập đoàn kinh tế và chức năng của tập đoàn kinh tế: “khi nói đến tập đoàn kinh tế thường ám chỉ đó là một thực thể kinh tế, một cơ cấu hoặc một tô hợp kinh doanh thực hiện kết ước kinh tế giữa các thành viên là các doanh nghiệp ở các lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ, tài chính.hoạt động trong cùng một ngành hay nhiều ngành khác nhau trên phạm vi một hay nhiều nước, có mối quan hệ với nhau về tài chính, công nghệ, thị trường và lợi ích.
Tập đoàn kinh tế là một tổ chức kinh tế có hai chức năng cơ bản là vừa kinh doanh vừa liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận. Trong tập đoàn kinh tế thường có một “công ty mẹ” nắm quyền lãnh đạo, chỉ phối hoạt động của “công ty con” về mặt tài chính và chiến lược phát triển. Với quan điểm trên, có thể nói tập đoàn kinh tế là một tổ hợp kinh doanh liên kết các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có mối quan hệ về tài chính, công nghệ, thị trường, lợi ích. Các doanh nghiệp này kinh doanh trong cùng một ngành, một lĩnh vực hoặc trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau trên phạm vi một nước hay nhiều nước.
Về mặt chức năng, tập đoàn kinh tế có thể thực hiện hai chức năng cơ bản là vừa sản xuất kinh doanh vừa đầu tư tài chính hoặc chỉ thực hiện các hoạt động tài chính, ngân hàng mà không có các cơ sở sản xuất để sản xuất ra các sản phẩm cụ thể. Việc liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp theo kiểu tập đoàn kinh tế nhằm mục đích tăng cường tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận. Xuất hiện từ cuối thế ky XVII, bắt đầu từ việc liên kết để xây dựng các tuyến tầu hoả chạy bằng hơi nước đầu tiên, tập đoàn kinh tế đã nhanh chóng trở thành một mô hình được áp dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, tuỳ theo đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng nước mà hình thành tập đoàn kinh tế khác nhau với các mô hình khác nhau.
Ở các nước Châu Âu có thể phân ra bốn mô hình tập đoàn kinh tế gồm: Mô hình tập đoàn đóng (dạng Xí nghiệp Liên hợp); mô hình tập đoàn mở (mô hình công ty mẹ - công ty con); mô hình Conglomarate (doanh nghiệp thuộc nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau tập hợp thành một tổ chức đề duy trì lợi ích chung); mô hình tập đoàn hỗn hợp. Ở Nhật Bản, tập đoàn kinh tế phân thành ba loại hình sau: Mô hình tập đoàn liên -10- kết theo hàng ngang, mô hình tập đoàn liên kết theo hàng dọc (theo kiểu sản xuất phân phối) và mô hình tập đoàn kinh tế nhỏ. Tập đoàn kinh tế ở các nước có nền kinh tế phát triển rất đa dạng, trong đó, việc hình thành tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ - công ty con là hình thức phổ biến có nhiều ưu điểm và đã được các quốc gia khác nhau áp dụng. Chính vi vậy, việc tìm hiểu công ty mẹ — công ty con trước hết phải hiểu được khái niệm công ty mẹ - công ty con, cần nhận thức rằng một công ty được xem là công ty mẹ hoặc là công ty con chỉ khi nó đặt trong mối quan hệ giữa hai công ty này đề xác định vị trí là “công ty mẹ” hoặc là “công ty con”.