Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác kế toán trong các doanh nghiệp. sản xuất nông nghiệp. Chương 2: Thực trạng công tác kế toán tại các doanh nghiệp trồng cả phê trên địa bản tỉnh Gia Lai. Chương 3: Hoàn thiện công tác kế toán tại các doanh nghiệp trồng cả phê trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Tổng quan tài liệu Hiện nay, ở các nước có nền kinh tế phát triển, kế toán nói chung, kế toán nông nghiệp nói riêng là một trong những chuẩn mực quan trọng của hệ thống kế toán doanh nghiệp. Quá trình. thành và phát tr của hệ thống. kế toán nông nghiệp ở.
e nước đều đặt trọng tâm ở vấn đề đo lường, đánh giá tài sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp và trợ cấp của Chính phủ. Hoạt động nông nghiệp được xem là sự quản lý của một thực thể biến đổi sinh học theo thời gian của quá sản xuất sinh sản, tăng trưởng và suy thoái làm thay đổi chất lượng hoặc định lượng trong một tài sản sinh học, có thể là một động vật hoặc thực vật sống, Sản xuất nông nghiệp là sản phẩm thu hoạch của các tài sản sinh học thực thể. 'Quy định kế toán đối với tài sản sinh học trong thời kì tăng trưởng, suy. thoái, sản xuất và sinh sản.
Nó đòi hỏi phải do lường giá trị hợp lí chỉ phí ước tính điểm bán hàng từ ghi nhận ban đầu tài sản sinh học đến khi thu hoạch. trên cơ sở giá trị hợp lí được xác định một cách đáng tỉn cậy. Chỉ phí của một tải sản sinh học được bao gồm lợi nhuận lãi hoặc lỗ trong khoảng thời gian mà nó phát sinh. IAS41 xác định tài sản sinh học có thể gắn liền với Trong hoạt động nông nghiệp, bao gồm một khoản trợ cắp của Chính phủ liên quan đến tài sản sinh học.
Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp có thể áp dung chuẩn mực để vận dụng trong quá trình hạch toán, sản xuất Ở Việt Nam, hiện nay chuẩn mực kế toán tương đối hoàn thiện nhưng. chuẩn mực kế toán hoạt động nông nghiệp chưa có, nên việc hạch toán, áp dụng các nguyên tắc cơ bản dựa trên các văn bản pháp quy quy định về tài sản. sinh học, sản phẩm nông nghiệp. Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu thực tiễn liên quan đến đề tài hoàn thiện công tác kế toán tại các doanh nghiệp trong các doanh nghiệp.
nông nghĩ „ hiện nay chưa có nhiễu để tài đi sâu vào lĩnh vực kế toán nông, nghiệp nảy nên nguồn tài liệu tham khảo chưa được phong phú. Trước đây, tác giả Nguyễn Quốc Thắng (2009) có viết đề tài Tổ chức kế toán quản trị chỉ phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc giống cây trồng Liệt Nam - luận án kinh tế, chuyên ngành kế toán, Đại học. Kinh tế quốc dân. Trong luận án này đã phản ánh được thực trạng công tác kế toán quản trị, giá thành thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam.
Từ đó đánh giá, phân tích được những tồn tại của việc tổ chức kế toán quản trị chỉ phí giá thành để đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy quản trị, công tác lập, luân chuyển chứng từ, phân loại chỉ phí sản xuất đê phục vụ cho kế toán quân tri va quản lý nội bộ doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hai tác giả Trương Bá Thanh, Nguyễn Thanh Trúc (2008), Ké toán quản trị chỉ phí ở các công ty nhà nước trên địa bàn tỉnh Đặc lak, Tap chí khoa học và công nghệ, Đại học Da Nẵng. Trong tạp chí này, trên cơ sở khảo sát đặc điểm quản trị chi phi tai các doanh nghiệp kinh doanh cà phê nhà nước ở Đặc Läk, nhóm tác giả đã đánh giá, chỉ ra hạn chế, những nguyên nhân trong công tác quản trị chỉ phí. Từ đó, đẻ xuất các phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị ch phí tại các công ty cà phê nhà nước trên địa bàn tỉnh Đặc Läk.
“Tuy nhiên, luận án và tạp chí nêu trên chỉ nghiên cứu các vấn đề liên quan đến kế toán quản trị chỉ phí giá thành tại ngành giống cây trồng Việt Nam, các doanh nghiệp kinh doanh cà phê Đăc Lăk mà chưa nghiên cứu kế. toán nông nghiệp nói chung và kế toán nông nghiệp tại các doanh nghiệp. trồng cà phê trên địa bản tỉnh Gia Lai nói lêng. Trên cơ sở nghiên cứu phan lí luận về chuẩn mực kế toán quốc tế về nông nghiệp cũng như các tài liệu tham khảo vẻ công tác tổ chức hạch toán một số ngành nông nghiệp chủ yếu mà các tác giả trong nước đã xuất bản.
Đề tài nghiên cứu về: Hoàn thiện công tác kế toán tại các doanh nghiệp trồng cà phê trên địa bản tinh Gia Lai la dé tải hoàn toàn mới. 'Những van dé mang tinh chất định hướng được nêu trong đề tài này, tác giả đã tham khảo một số văn bản quy định quy định về thời gian đánh giá giá trị vườn cây của Cục Trồng trọt thuộc Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, về định mức nguyên vật liệu trong từng giai đoạn chăm sóc vườn cây của Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai.cũng như thông qua các bài báo và một số tài liệu liên quan đến lĩnh vực mà đề tài nghiên cứu của các Sở, Ban ngành tỉnh Gia Lai và các kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bản. Như vậy, đề tài nghiên cứu về “Hoàn thiện công tác kế toán tại các doanh nghiệp trằng cà phê trên địa bàn tinh Gia Lai” cha tic giả đã sâu vào việc nghiên cứu và phân tích các vấn đề liên quan đến việc tổ chức, hạch toán công tác kế toán xác định chỉ phí, tính giá thành và kết quả tiêu thụ của các doanh nghiệp trồng cà phê trên địa bản. Từ đó, đưa ra các ý kiến, giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp.
Tắt cả các yếu tổ liên quan đến công tác kể toán trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn, đề tài sẽ hoàn thiện được nội dung nghiên cứu phù hợp với thực tiễn phát triển của các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CONG TAC KE TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP. ĐẠC ĐIỂM HOẠT ĐỌNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ. NHUNG ANH HUONG DEN CONG TAC KE TOÁN.
Đặc điểm tổ chức sản xuất nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng tạo ra các loại lương thực - thực phẩm đẻ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho toàn xã hội và cho xuất khâu. Sản xuất nông nghiệp bao gồm hai ngành sản xuất chủ yếu. là ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp được. thực hiện bởi nhiều loại hình kinh tế khác nhau, có thể được tô chức thành những đơn vị hạch toán độc lập để phục vụ cho nội bộ ngành hoặc thành những đội sản xuất riêng để phục vụ cho nội bộ doanh nghiệp. Sản xuất nông nghiệp được thực hiện bởi nhiều loại hình khác nhau từ kinh tế phụ gia đình đến các hộ cá thể chuyên sản xuất nông nghiệp và các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp. Nếu xét về mặt sở hữu thì doanh nghiệp sản xuất bao gồm cả những.
loại hình thuộc sở hữu nhà nước, thuộc sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Còn nếu xét về mặt tổ chức thì nó cũng rất đa dạng bao gồm từ cấp tổng công ty, các loại công ty, hợp tác xã sản xuất và các doanh nghiệp tư nhân. Nói chung, về mặt sở hữu và hình thức tổ chức thì các loại hình doanh nghiệp trong sản xuất nông nghiệp cũng giống như những ngành sản xuất khác [1] 1. Những đặc điểm hoạt động sản xuất ảnh hưởng đến công tác kế toán Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt trong sản xuất của doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp không thé thay được nhưng nó lại bị hạn chỉ mặt không gian.
Thực tế đó đã ảnh hưởng rắt lớn đến công tác kế toán chỉ phí sản xuất và tính giá thành, mà cụ thể là phải áp dụng những phương pháp thích hợp để tránh những khoản chỉ phí vốn hạch toán chung cho các loại nông trường của từng loại sản phẩm trên từng loại đất khác nhau. Đối tượng sản xuất là các cây, con có quy luật phát sinh, phát triển hết sức riêng biệt. Đặc điểm này tạo nên tính đa dạng và phức tạp trong tổ chức theo dõi việc đầu tư chi phi gắn liễn với từng đối tượng cụ thể để phục vụ cho việc xác định cơ cấu cây trồng, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh và xác. định kết quả hoạt động.
Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời gian lao đông nhỏ hơn thời gian sản xuất và mức hao phí lao động có sự khác biệt lớn trong từng thời kì phát triển của cây trồng. Đặc điểm này làm cho việc phát sinh và hình thành chỉ phí không có tính chất ổn định mà có sự chênh lệch rất lớn trong từng thời kì giai đoạn nhất định của quá trình sản xuất. Nó đôi hỏi phải có phương pháp theo doi và phân bổ thích ứng nhằm phản ánh đúng đắn chất lượng, hiệu quả cũng như kết quả sản xuất kinh doanh. Luân chuyển sản phẩm trong nội bộ doanh nghiệp diễn ra rất phổ.
ién biểu hiện ở chỗ sản phẩm của kì này là vật liệu cho kì sau, sản phẩm của ngành này làm vật liệu cho ngành khác, có khi còn có sự chuyển hóa rất đặc biệt cùng là một đối tượng nhưng có thể là chỉ phí sản xuất dở dang, cũng có thể là sản phẩm thương phẩm, cũng có thể là một dạng của tư liệu sản xuất (Vật liệu hoặc tải sản cố định). Đặc điểm này chỉ phối đến việc xác định phương pháp tính giá cung cấp lẫn nhau cũng như việc tổ chức theo dõi quá trình cung cấp dé phục vụ cho yêu cầu đánh giá đúng đắn hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh của từng thời kì sản xuất, từng ngành sản xuất trong. Sản xuất thường trải ra trên địa bản rộng. Việc quản lý và sir dung tai sản, tiền vốn, lao động có những sự khác biệt liên quan đến những điều kiện tự nhiên — kinh tế xã hội nhất định.
Đặc điểm này chỉ phối đến việc chức bộ máy kế toán cũng như việc tổ chức thu nhận và cung cấp những nguồn thông, tin phục vụ cho yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ cũng như yêu cầu khoán sản phẩm trong nông nghiệp. Sản phẩm nông nghiệp có sự sống nhờ quá trình tăng trưởng và phát triển của cây trồng, Điều này ảnh hưởng đến giá trị vườn cây và sản phẩm thu.