CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN VE MARKETING 1. KHAI QUAT VE MARKETING 1. Khái niệm về marketing Marketing là một trong những yếu tố có tầm ảnh hưởng lớn đối với doanh nghiệp và ngày càng trở thành một hệ thống chức năng quan trọng không thể thiếu trong doanh nghiệp. Dưới đây là một số quan điểm và khái niệm Marketing hiện đại của các tổ chức, hiệp hội và các nhà nghiên cứu về Marketing trên thế giới được chấp nhận và phổ biến theo từng quan điểm và góc nhìn của các trường phái khác nhau: Marketing là thiết lập, duy trì và củng cố các mối quan hệ với khách.
hàng và các đối tác liên quan để làm thỏa mãn mục tiêu của các thành viên nay [13]. Marketing là một quá trình trao đổi có tính xã hội các thực thể giá trị hữu hình và vô hình với những người khác để đáp ứng các mục đích của cá nhân hay của tổ chức [9]. Theo AMA (American Marketing Association): “Marketing Ii tién trình hoạch định và thực hiện sự sáng tạo, định giá, xúc tiến và phân phối những ý tưởng hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sự trao đổi và thỏa mãn những. mục tiêu của cá nhân và tổ chức”.
Theo Philip Kotlel, Marketing là một quy trình xã hội, trong đó, các cá nhân và nhóm dành được những điều mình cần và muốn thông qua dựng, đề xuất và trao đổi các sản phẩm và dịch vụ tương xứng về với những cá nhân, tổ chức khác [3]. Ngày nay, hầu hết các trường phái nghiên cứu về Marketing đều thống nhất quan điểm Marketing là thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Trước đây, người ta cho rằng Marketing là làm sao quảng cáo tốt để bán được hàng thì ngày nay điều mà các nhà làm Marketing quan tâm là làm thế nào để hiểu rõ khách hàng, hiểu rõ nhu cầu của họ, từ đó phát triển những sản phẩm mang lai cho khách hàng những giá trị vượt trội với mức giá hợp lý, phân phối và cỏ động, một cách hiệu quả, thì bán những sản phẩm đó không có vấn đề gì khó khăn. Do vậy, rõ ràng là bán hàng và quảng cáo chỉ là một phần của phối thức Marketing rộng lớn, một tập hợp các công cụ phối hợp với nhau nhằm ảnh hưởng thị trường.
Marketing là “một tiến trình xã hội và quản lý theo đó các cá nhân và các nhóm có được cái mà họ mong muốn thông qua việc tạo ra, trao đổi sản phẩm có giá trị với những người khác ” [S]. Vai trò của Marketing đối với doanh nghiệp Muốn thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp và các nhà kinh doanh cần hiểu biết cặn kẽ về thị trường, về những nhu cầu và mong muốn của khách hàng, về nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh. Ngày nay, các doanh nghiệp phải hoạt động trong một môi trường cạnh tranh quyết liệt và có những thay đổi nhanh chóng về khoa học - công nghệ, những đạo luật mới, những chính sách quản lý thương mại mới và sự trung thành của khách hàng ngày càng giảm sút. Hoạt động marketing trong doanh nghiệp đóng vai trò quyết định đến vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.
Bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, lập danh mục hàng hoá đến việc thực hiện sản xuất, phân phối và khi hàng hoá được bán, hoạt động marketing vẫn được tiếp tục, cho nên chức năng quản trị marketing có liên quan chặt chẽ đến các lĩnh vực quản trị khác trong doanh nghiệp và nó có vai trò định hướng, kết hợp các chức năng khác để không chỉ nhằm lôi kéo khách hàng mà còn tìm ra các công cụ có hiệu quả thoả mãn nhu cầu khách hàng từ đó đem lại lợi nhuận cho Công ty. Marketing giúp vạch ra những nét lớn trong hoạt động marketing của doanh nghiệp, từ việc lựa chọn chiến lược phát triển, chiến lược cạnh tranh, cho đến việc xây dựng chương trình hoạt động cụ thẻ thích hợp, nhờ đó một 10 đơn vị kinh doanh hy vọng đạt các mục tiêu marketing của mình. Một khi đã đạt đến đỉnh cao trong khu vực, trong ngành hoạt động thì mức độ tăng trưởng của doanh nghiệp sẽ chậm lại, lúc này cần đến chiến lược marketing. với sự đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng thị trường.
Thị trường tiến triển nhanh, đồi hỏi doanh nghiệp phải dành nhiễu sức lực trong nghiên cứu thị trường, tìm hiểu những biến đổi trong hành vi tiêu dùng của khách hàng từ đó đưa ra các quyết định liên quan đến hoạt động mới cho hiệu quả hơn. Marketing giúp doanh nghiệp vừa linh hoạt vừa chủ động để thích ứng với những biến động của thị trường, đồng thời còn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động và phát triển theo đúng hướng. Điều đó có thể giúp doanh nghiệp phần đầu thực hiện mục tiêu nâng cao vị thế của mình trên thị trường. Doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội cũng như đầy đủ các nguy cơ đối với sự phát triển nguồn lực của doanh nghiệp.
Nó giúp doanh nghiệp khai thác và sử dụng, hợp lý các nguồn lực, phát huy sức mạnh của doanh nghiệp. Marketing cung cấp cho doanh nghiệp một phương hướng kinh doanh cụ thể, có hiệu quả, làm kim chỉ nam cho mọi họat động chức năng của doanh nghiệp. Giúp cho doanh nghiệp phát huy được lợi thế cạnh tranh, tăng cường. sức mạnh cho doanh nghiệp, phát triển thêm thị phần.
Doanh nghiệp hạn chế được những bắt trắc rủi ro đến mức thấp nhất, tạo điều kiện cho doanh nghiệp. kinh doanh ồn định lâu dài và phát triển không ngừng. Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động marketing (1) Thái độ khách hàng; (2) hành vi khách hàng; (3) thị trường; (4) các chỉ tiêu tài chính [8] Bảng I. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động marketing [12] “Thái độ khách hàng Hành vi khách hàng Mức độ nhận biết thương hiệu Thị phân Sự phủ hợp sản phẩm với khách hàng | Doanh số bán cho khách hàng mới 11 Thái độ khách hàng Hành vi khách hàng.
Mức độ khác biệt hóa được nhận thức Xu hướng doanh thu Nhận thức về chất lượng Số lượng khách hàng Sở thích Số lượng khách hàng mới Mức độ thỏa mãn khách hàng Tài sản thương hiệu Lòng trung thành của khách hàng Số lượng khách hàng tiền năng. Giới thiệu khách hàng về doanh Giá, độ co giãn của giá nghiệp Hành vi khách hàng Tài chính Số khách hàng phàn nàn Lợi nhuận/ khả năng sinh lợi Số lần giao dịch của mỗi khách hàng _ | Tổng lợi nhuận biên Lợi nhuận khách hàng. “Tổng lợi nhuận biên khách hang Dòng vốn Cổ tức Giá trị vòng đời khách hàng 1.2 TIỀN TRÌNH MARKETING CHO SẢN PHAM 1. Phân tích môi trường marketing.
Môi trường vĩ mô. * Môi trường kinh tế Nhân tổ kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó bao gồm các nhân tố như: lạm phát, tỉ giá hối đoái, lãi suất ngân hàng, tiền tệ, tỷ lệ thất nghiệp.Tốc độ tăng trưởng hay suy giảm của nền kinh tế đều ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Nếu nẻn kinh tế đang ở trong giai đoạn hưng thịnh thì nó sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho các chiến lược đầu tư của nghành, của doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa. Ngược lại nếu 12 nền kinh tế suy thoái sẽ tạo ra các nguy cơ cho chiến lược đầu tư, phát triển của nghành * Môi trường nhân khẩu học Bao gồm một tập hợp các yếu tố như: Quy mô, cơ cấu (tuôi tác, giới tính, tốc độ tăng và sự phân bố của dan sé, Với sự phát triển về quá trình đô thị, quy mô dân số, trình độ văn hóa.
tăng lên đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những phương thức và công nghệ làm mới marketing. * Môi trường văn hóa - xã hội Bao gồm thể chế xã hội, giá trị xã hội, truyền thống, dân tộ tôn giáo, lối sống,. Các yếu tố này sẽ chỉ phối đến hành vi tiêu dùng và hành vi kinh doanh. Các doanh nghiệp nên tìm cách thích ứng với những yếu tố môi trường.
Nhân tố này tác động đến doanh nghiệp thông qua các nhân tó: Trình độ, dân trí, tỷ lệ kết hôn, tỷ lệ sinh đẻ, tỷ lệ tăng dân số, phong cách, lối sống, chuẩn mực đạo đức, giải trí, sử dụng lao động nữ, phong tục tập quán, văn hóa, hiệp hội người tiêu dùng. Trình độ dân trí càng cao ảnh hưởng càng lớn đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì lúc đó yêu cầu về mẫu mã, chất lượng, màu sắc, kiểu dáng, thẩm mĩ mà người tiêu dùng đòi hỏi ngày cảng cao. Các giá trị xã hội không những ảnh hưởng tới chiến lược mà tới cả các biến số khác của marketing. * Môi trường công nghệ Khoa học kĩ thuật luôn giữ vị trí trung tâm ảnh hưởng sâu sắc toàn diện đến hoạt động của doanh nghiệp.
Nó tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thị trường cho doanh nghiệ * Môi trường chính trị, pháp luật Bao gồm: Mức độ ồn định của chính trị, các đường lối, chính sách của 13 chính phủ, cấu trúc chính trị, hệ thống quản lý hành chính và môi trường luật pháp bao gồm các bộ luật và các quy định. Cần phân tích một cách hệ thống, toàn diện về các yết iều luật, hệ thống chính sách quản lý, hệ thống quản lý hành chính, mức độ dân chủ hóa có chỉ phối đến hoạt động marketing. * Môi trường tự nhiên Nhân tố này ảnh hưởng khá lớn đến các nghành kinh tế kĩ thuật và các doanh nghiệp thông qua các nhân tố như: lũ lụt, hạn hán, thiên tai, mắt mùa, dich bệnh, môi trường, tài nguyên thiên nhiên. Môi trường vi mô Các yếu tổ trên hình thành nên môi trường vi mô Marketing của doanh nghiệp.
Môi trường vi mô Marketing là những lực lượng có quan hệ trực tiếp tới bản thân doanh nghiệp, tới bộ phận Marketing và các khả năng phục vụ thị trường của nó. Có thể chia các yếu tố của môi trường vi mô Marketing của doanh nghiệp ra hai loại: các yếu tố môi trường nội bộ (bên trong) doanh nghiệp và các yếu tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp. * Môi trường bên trong doanh nghiệp Môi trường bên trong còn được gọi là môi trường nội bộ doanh nghiệp. Khi thiết kế các kế hoạch Marketing cho doanh nghiệp, bộ phận Marketing.
phải chịu sự lãnh đạo của ban giám đốc doanh nghiệp đồng thời phải hợp tác với những bộ phận khác như bộ phận tài chính, bộ phận nghiên cứu và phát triển Research and Development-R&D, bộ phận vật tư, sản xuắt, tài chính-kế toán và bộ phận nhân sự của doanh nghiệp.