CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN VE ĐÀO TẠO NGUÒN NHÂN LỰC TRONG TO CHỨC 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TAO NGUON NHÂN LỰC 1. Các khái lệm cơ bản về nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực a. Khai niệm nguồn nhân lực Theo Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan zhỉ “Nhân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất” (Phát triển nguồn nhân lực giáo dục dai học Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001).
Nhân lực là sức lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động. Nhân lực là bao. gồm tắt cả các tiểm năng của con người trong một tô chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo của tổ chức), tức là tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức.
“Thuật ngữ nguồn nhân lực (humans resourses) xuất hiện vào khoảng, thập niên 80 của thế kỷ 20 ở các nước có nền kinh tế phát triển khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Lúc này nguồn nhân lực với ý nghĩa là nguồn lực con người, là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, cụ thể: Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, một địa phương, một ngành hay một vùng. Theo cách hiểu này, nguồn nhân lực được coi là nguồn lực con người với các yếu tố thể chất, 14 tỉnh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển kinh tế — xa hội của quốc gia.
Tại Việt Nam, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi đất nước bắt đầu công cuộc đổi mới, điều này được thể hiện qua các công. trình nghiên cứu về nguồn nhân lực. Theo Phạm Minh Hạc thì nguồn nhân lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm cả thể lực, trí lực và năng lực phâm chất). Còn theo Phạm Văn Đức thì nguồn lực con người chỉ khả năng và phâm chất của lực lượng lao động, đó không chỉ là số lượng và khả năng chuyên môn mà còn cả trình độ văn hóa, thái độ đối với công việc và mong muốn tự hoàn thiện của lực lượng lao đông.
Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao gồm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai, trình độ văn hóa và thái độ đối với công việc. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì lực lượng lao động là dân số trong độ tuổi lao động thực tế có việc làm và những người thất nghiệp. Đây là khái niệm về nguồn nhân lực theo nghĩa tương đối hẹp, coi nguồn nhân lực là nguồn lao động hoặc là toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc. Trong số liệu thống kê, Tổng cục Thống kê Việt Nam quy định nguồn nhân lực xã hội là những người trong độ tuổi lao động đang có việc làm và cả những người ngoài độ tuổi lao động thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp.
Theo quan điểm này, dưới góc độ nào đó thì nguồn nhân lực được hiểu là lực lượng lao động xã hội, là những người lao động cụ thể và chỉ thuần túy về mặt số lượng người lao động. “Theo quan điểm của kinh tế học phát triển, nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên nhân sự của quốc gia hoặc của một tổ chức, là vốn nhân lực. Ở tầm vĩ 15 mô đó là nguồn lực xã hội, ở tầm vi mô đó là một tập hợp của rất nhiều cá nhân, nhân cách khác nhau với những nhu cầu và tâm lý khác nhau, là toàn bộ đội ngũ nhân viên của tổ chức, vừa có tư cách là khách thể của hoạt động, quản lý vừa là chủ thể hoạt động và là động lực của tổ chức đó. kinh tế phát triển, người lao động trong một tô chức được coi là nguồn nhân lực với những khả năng thay đổi về số lượng và chất lượng của đội ngũ trong.
quá trình phát triển của tổ chức, hay còn gọi là “vốn nhân lực, được hiểu là tiềm năng, khả năng phát huy tiềm năng của người lao động, là cái mang lại nhiễu lợi ích hơn trong tương lai so với những lợi ích hiện tại”. Theo Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) thì “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức va năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc dang là tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một công đồng”. Như vậy, nguồn nhân lực là tổng thể các tiểm năng lao động con người của một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 'Nguôn nhân lực của một tô chức bao gồm tắt cả những người lao động làm việc trong tô chức đó có sức khoẻ và trình độ khác nhau, họ có thé tao thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tô chức nều được động viên, khuyến khích phù hợp.
Cán bộ, công chức Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật CBCC 2008 thì: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bỗ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở quận, huyện, thị xã, thành phó thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. 16 Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4, Luật CBCC 2008 thì: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức. danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc. Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không.
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Khoản 3, Điều 4, Luật CBCC 2008 thì: Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được. bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công đân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Trong đề tài này, chủ thể và cũng là đối tượng chủ yếu trong công tác đào tạo là CBCC tại UBND huyện Tra Béng (CBCC cấp huyện, CBCC cấp.
Dù ở cấp nào, CBCC cũng là nguồn nhân lực trong các cơ quan tổ, chức. hay ngược lại. Vì vậy việc hiểu hai khái niệm °CBCC” và *NNL” được áp dung trong dé tài là tương đồng nhau. * Đặc trưng của nguồn nhân lực trong khu vực hành chính nhà nước 17 ~ Là những người thực thi công vụ: Chức năng Cán bộ công chức phải thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, chủ động và phối hợp chặt chẽ đối với các tô chức, cá nhân trong thi hành công vụ.
~Là người cung cấp dịch vụ công: Dịch vụ công là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân. vậy cán bộ, công chức ở một số đơn vị phải thực hiện những hoạt động của cơ. quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và bảo đảm cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội. Hoạt động chuyên nghiệp: Đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ quan nhà nước hầu hết đều đã qua dao tạo, có tiêu chuẩn vẻ bằng cấp cụ thể, với trình độ, chuyên môn nghiệp vụ nhất định, không ngừng nâng cao chất lượng, năng.
Được Nhà nước đảm bảo lợi ích khi thực thì công vụ: Cán bộ, công chức được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ; được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ và được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ. Điều kiện làm việc: Cán bộ, công chức được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật. Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Đào tạo nguồn nhân lực Trong bộ sách quản trị nguồn nhân lực của George T.Milkovich và Jonh W.Boudreau cho rằng “đào tạo là một quá trình có hệ thống nhằm nuôi dưỡng việc tích lũy các chức năng, những quy tắc, khái niệm hay thái độ dẫn 18 đến sự tương xứng tốt hơn giữa đặc điểm của người lao động và những yêu.
cầu của công việc”. Đào tạo là các hoạt động học tập cung cấp những kiến thức, kỹ năng. nhằm giúp con người có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ vị trí việc làm của mình. Đó là quá trình truyền thụ khối kiến thức mới một cách có hệ thống để người lao động thông qua đó trở thành người có văn bằng mới hoặc cao hơn trình độ trước đó, “đảo tạo là các hoạt động học tập để nâng cao.
trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện có hiệu quả hơn chức năng và nhiệm vụ của mình” (trong cuốn Giáo trình Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức công, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, H.2011 của Trần Thị Thu, Vũ Hoang Ngan).