CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUÒN NHÂN LỰC TRONG TÔ CHỨC 1,1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NGUÒN NHÂN LỰC 1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực trong một tổ chức (ngành, lĩnh vực hay doanh nghiệp) là toàn bộ lực lượng lao động đặc trưng bởi quy mô, cơ cấu và chất lượng. tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh và ngày càng hoàn thiện về cơ cấu và chất lượng Nguồn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự thành công trong sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Do đó, phát triển nguồn nhân lực này đóng vai trò vô cùng quan trọng Theo Bùi Văn Nhơn trong giáo trình “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội (2006), "Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”. 'Theo giáo trình “Quản trị nguồn nhân lực” của trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng (2006), “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đảo tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bit cứ đặc điểm nào khác của người lao động”. “Trong phạm vi luận văn này, nguồn nhân lực là nguồn lực con người để thực hiện nhiệm vụ của tô chức đó, bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ của.
người làm việc tương ứng với nhiệm vụ đó. Đào tạo nguồn nhân lực Theo từ điển tiếng Việt, đào tạo được hiểu là “Đào ứqo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những trí thức, kỹ năng, kỳ xảo.một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghỉ với cuộc sóng và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất đinh góp phẩn của mình vào việc phát triển kinh tế xã hội duy trì và phát triển nên văn mình của loài người. Tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghẻ nghiệp. Hai loại này gắn bó và hỗ trợ lẫn nhau với những nội dung do đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kỹ thuật - công nghệ và văn hóa đất nước.
Có nhiều hình thức đào tạo: đào tạo cấp tốc, đào tao chính quy và khong chink quy”.Milkovich và Jonh W.Boudreau cho rằng “đào tao la một quá trình có hệ thống nhằm nuôi dưỡng việc tích lũy các chức năng, những quy tắc, khái niệm hay thái độ dẫn đến sự tương xứng tốt hơn giữa đặc điểm của người lao động và những yêu cầu của công việc ”. Theo Cenzo và Robbins, đào tạo là tiến trình bao gồm những phương pháp được sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành. Tuy nhiên, đào tạo có định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện thời của cá nhân, giúp cá nhân có ngay các kỹ năng cần thiết đề thực hiện tốt các công việc hiện tại. Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2004), “đảo tạo là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được các chức năng nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ”.
Theo quan điểm này, đào. tạo cung cấp cho người lao động các kiến thức cả lý thuyết và thực hành, là một quá trình học tập, thực hiện các hoạt động học tập giúp người lao động thực hiện các nhiệm vụ một cách tốt nhất trong công của mình. Ngoài 10 những kiến thức đã có sẵn, đào tạo trong tổ chức lầ bổ sung cho người lao. động những kiến thức, kỹ năng mà họ còn thiếu và yếu để hoàn chỉnh hơn các kiến thức, kỹ năng này, từ đó đáp ứng tốt nhất yêu cầu công việc.
‘Theo Lé Thanh Ha (2009), đào tạo là “một quy trình có hoạch định và có tổ chức nhằm tăng kết quả thực hiện công việc”. Với cách hiểu này, việc. đào tạo phải được thiết kế sao cho thỏa mãn được nhu cầu đã xác định, có phân công vai trò và trách nhiệm của những người đã tham gia và có xác định mục tiêu rõ rằng. Đào tạo trong tổ chức có bốn dạng cơ bản: đào tạo mới, đào tạo lại, đảo tạo bồ sung và đảo tạo nâng cao.
Tóm lại, đào tạo là các hoạt động học tập có tổ chức, diễn ra trong. những khoảng thời gian xác định nhằm hướng vào việc giúp cho người lao động nắm rõ hơn chuyên môn, nghiệp vụ của mình ở công việc hiện tại, bỏ sung những kỹ năng, kiến thức còn thiếu để thực hiện công việc một cách tốt hơn trong tương lai. Đào tạo nhân lực được chia thành 4 loại chủ yếu như sau: ~ Đào tạo lại mới: là việc đào tạo cho những cá nhân chưa qua đào tạo. nhằm giúp người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, đáp ứng được.
yêu cầu công việc của tổ chức [21]. Trong nhiều trường hợp, do không tuyển được lao động có chuyên môn, trình độ phù hợp trên thị trường lao động hoặc. một số nguyên nhân khác mà tổ chức buộc phải tiến hành đào tạo mới. ~ Đào tạo lại: là việc đảo tạo cho người lao động đã qua đào tạo nhưng, chuyên môn chưa phủ hợp với công việc đảm nhận.
Công tác đào tạo lại được. tiến hành khi vì một nguyên nhân nào đó, tổ chức tuyển người vào vị trí nhưng không phù hợp với chuyên môn đã được đảo tạo, do sắp xếp bộ máy tổ chức hoặc thay đổi dây chuyền công nghệ. Người lao động buộc phải luân chuyển sang bộ phận khác, làm các công việc khác. Khi đó, họ cần phải được đào tạo lại để có thể đảm đương công việc mới.
1 ~ Đảo tạo bổ sung: là việc đảo tạo cho người lao động các kiến thức, kỹ năng cần thiết để khắc phục sự thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng, qua đó giúp họ hoàn thành tốt công việc được giao [21] ~ Đảo tạo nâng cao: là việc đào tạo nhằm giúp người lao động có kiến thức, kỹ năng ở trình độ cao hơn, từ đó họ có thể hoàn thành công việc tốt hơn với năng suất và hiệu quả cao hơn. Nguyên tắc của đào tạo NNL Đào tạo NNL dựa trên 4 nguyên tắc sau [17]: Thứ nhất: Con người hoàn toàn có năng lực phát triển. Mọi người trong. một tổ chức đều có khả năng phát triển và sẽ có gắng để thường xuyên phát triển để giữ vững sự tăng trưởng của doanh nghiệp cũng như của cá nhân họ.
Thứ hai: Mỗi người đều có giá trị riêng, vì vậy mỗi người là một con người cụ thể khác với những người khác và đều có khả năng đóng góp những. Thứ ba: Lợi ích của người lao động và những mục tiêu của tổ chức có thể kết hợp với nhau. Hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu của doanh nghiệp và lợi ích của người lao đông. Sự phát triển của một tổ chức phụ thuộc vào nguồn lực của tổ chức đó.
Khi nhu cầu của người lao động được thừa nhận và đảm bảo thi họ sẽ phần khởi trong công việc. Thứ tr: Đào tạo NNL là một nguồn đầu tư sinh lời đáng kế, vì đào tạo NNL là những phương tiện để đạt được sự phát triển của tổ chức có hiệu quả nhất. Vai trò đào tạo NNL ~ Đối với xã hội Dao tao ngudn nhân lực mang lại nhiều lợi ích trực tiếp và gián tiếp cho. Khi người lao động được đảo tạo, họ có trình độ chuyên môn cao, ý thức lao động cũng tốt hơn, họ dễ dàng tìm được việc làm mới nếu doanh 12 nghiệp khó khăn, không thê tiếp tục duy tri, phát triển.
Do đó, xã hội giảm bớt được chỉ phí, gánh nặng đề giải quyết thất nghiệp, giải quyết an sinh xã hội, hơn nữa giúp xã hội có thêm 01 lao động tham gia làm việc, tạo thu nhập cho. Đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề sống còn của một đất nước, quyết định sự phát triển xã hội và là một trong những giải pháp đề chống lại thất nghiệp. Như vậy, đàu tư cho đào tạo và giáo dục là những khoản đầu tư chiến lược, chủ chốt cho sự phổn vinh của đắt nước. ~ Đối với doanh nghiệp: Đào tạo nguồn nhân lực mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, cụ thể như sau: Đào tạo mang lại những lợi ích hữu hình bao gồm tăng sản lượng, giảm chỉ phí, tiết kiệm thời gian, tăng chất lượng sản phẩm và dịch vụ Đào tạo nguồn nhân lực giúp cải thiện thói quen làm việc, cải thiện thái độ và hành vi thực hiện công việc, tạo môi trường làm việc tốt hơn, tạo điều kiện để nhân viên phát triển, nâng cao hình ảnh của công ty trên thương.
Cụ thê như: + Việc đào tạo giúp rút ngắn thời gian học hỏi và giám sát. Ngày nay, khi việc cạnh tranh trở ngày càng trở nên gay gắt thì doanh nghiệp càng mong, muốn nhân viên thạo việc trong khoảng thời gian ngắn nhất, trong những trường hợp nhu thế, đào tạo là giải pháp ưu việt. Mặt khác, khi nắm được những kiến thức và kỹ năng để thực hiện công việc, cá nhân có thể làm việc một cách độc lập mà không cần đến sự giám sát thường trực của cấp trên, khi đó người quản lý có thể dành nhiều thời gian hơn cho những việc mang tính chiến lược hơn [14]. + Dio tao giúp tăng hiệu quả làm việc, giúp cho cá nhân làm việc nhanh chóng và chính xác hơn, có thể tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mới, tăng chất lượng dịch vụ, giảm nguyên vật liệu thừa, giảm tai nạn lao động.
+ Dio tao làm tăng niềm tin và động lực làm việc của nhân viên từ đó 13 giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đã dat ra vi dao tạo kích hoạt sự. yêu thích công việc và mở ra những cơ may mới cho cá nhân, làm tăng sự ôn định trong công việc vì kết quả thực hiện công việc gia tăng và cá nhân có thể thực hiện được những công việc đòi hỏi nhiều kỹ năng. + Đào tạo nguồn nhân lực thường xuyên Cũng tạo ra một lực lượng lao. động lành nghề, linh hoạt và có khả năng thích nghỉ với những thay đổi trong.
hoạt động của công ty. ~ Đối với người lao động: Việc được đảo tạo giúp cho cá nhân thỏa mãn. với công việc hiện tại, khiến cho họ cảm thấy công việc thú vị và hấp dẫn hơn. Được đào tạo, có thêm nhiều kiến thức và kỹ năng sẽ làm tăng giá trị của cá nhân đối với công ty.