Chương 1: Cơ sở lý luận về doanh nghiệp và hiệu quả sản sử dụng vốn của doanh nghiệp; Chương 2: Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Viettel chi nhánh Hải Phòng giai đoạn từ năm 2011-2015; Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sử dụng vốn tại Viettel chi nhánh Hải Phòng đến năm 2020. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Doanh nghiệp và hệ thống kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về doanh nghiệp Hiện nay trên phương diện lý thuyết tồn tại nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều có một nội dung nhất định với một giá trị nhất định.
Mỗi quan điểm tiếp cận doanh nghiệp khác nhau sẽ đổi lại một khái niệm, định nghĩa khác nhau, ví dụ: Xét theo quan điểm pháp lý: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh. [14] Xét theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy”. Xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được.
[14] Xét theo quan điểm hệ thống:doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự. Từ các nhìn nhận như trên có thể phát biểu về khái niệm doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, tập trung các 5 phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội. Phân loại doanh nghiệp Như đã phân tích ở trên, với mỗi mục đích tiếp cận khác nhau sẽ dẫn tới một khái niệm doanh nghiệp khác nhau; tương tự như vậy, dựa trên các tiêu chí khác nhau sẽ có một hệ thống phân loại doanh nghiệp khác nhau.
Doanh nghiệp như một phương tiện để thực hiện ý tưởng kinh doanh. Muốn kinh doanh, thương nhân phải chọn lấy cho mình một trong số những loại hình mà pháp luật quy định. Hình thức pháp lý của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. 20] Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. 26] Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh). Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn.
30] Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh 6 nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. 36] Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài 1996 chưa đăng kí lại hay chuyển đổi theo quy định. Có thể phân loại các doanh nghiệp thành có chế độ trách nhiệm vô hạn và chế độ trách nhiệm hữu hạn: Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn: Là loại hình doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp bằng tất cả tài sản của mình, khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của nó.
Theo pháp luật Việt Nam, có hai loại doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh. [13, Tr 50] Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn: Theo pháp luật Việt Nam, các doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn cụ thể gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài không tiến hành đăng ký lại theo Nghị định 101/2006/NĐ-CP.Chế độ trách nhiệm hữu hạn của các loại doanh nghiệp trên thực chất là chế độ trách nhiệm hữu hạn của các nhà đầu tư - thành viên/chủ sở hữu công ty. Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn kinh doanh của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động SXKD, các DN cần phải có các yếu tố cơ bản: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Để có được các yếu tố này đòi hỏi DN phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với qui mô và điều kiện kinh doanh. Vốn kinh doanh của DN thường xuyên vận động và chuyển hoá từ hình thái ban đầu là tiền chuyển sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền. Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy được gọi là sự tuần hoàn của vốn. Quá trình hoạt động SXKD của DN diễn ra liên tục, không 7 ngừng.
Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh. Sự chu chuyển của vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn nhưng có thể khái quát thành: T.T1 Để các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất thì DN phải có một lượng tiền ứng trước, lượng tiền ứng trước này được gọi là vốn. Như vậy “Vốn doanh nghiệp là biểu hiện tiền của, vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất nhằm thu lại lợi nhuận” Tiền chỉ có thể trở thành vốn khi nó đáp ứng được các yêu cầu sau: Thứ nhất: Tiền phải là đại diện cho một loại hàng hóa nhất định, đảm bảo cho một hàng hóa có thực.
Thứ hai: Tiền phải được tích tụ và tập trung ở một mức nhất định. Thứ ba: Khi có đủ lượng tiền nhất định thì tiền phải vận động để sinh lời. Từ những phân tích trên có thể rút ra: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.
Ở nước ta hiện nay, khái niệm về vốn cũng được hiểu khác nhau. Một số cho rằng vốn là số tiền đầu tư ứng trước vào tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Một số khác có quan điểm cho rằng vốn gồm hai bộ phận là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Quan điểm này có sự đồng nhất giữa vốn và nguồn vốn, họ cho rằng vốn và nguồn vốn chỉ là những cách gọi khác nhau để chỉ ra nguồn vốn của tài sản trong doanh nghiệp.
Theo tác giả, vốn và nguồn vốn là hai mặt của cùng một lượng tài sản do DN quản lý, sử dụng; trong đó vốn là biểu hiện bằng tiền (giá trị) của các tài sản của doanh nghiệp, 8 còn nguồn vốn chỉ ra nguồn gốc hình thành các tài sản này. Khi nói đến vốn tức là muốn nói đến giá trị những tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ, sử dụng để phục vụ sản xuất kinh doanh. Vốn trong doanh nghiệp có các đặc trưng sau: - Vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản, điều này có nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình như: nhà xưởng, đất đai, thiết bị, nguyên liệu, chất xám, thông tin, vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thương mại, bản quyền phát minh sáng chế,… - Vốn có giá trị về mặt thời gian, một đồng vốn ngày hôm nay có giá trị cao hơn một đồng vốn trong tương lai, bởi vì có thể đầu tư tiền của ngày hôm nay để thu được những khoản thu nhập trong tương lai. Tỷ lệ lãi suất là sự đo lường thời giá của tiền tệ, nó phản ảnh chi phí cơ hội mà người sử dụng vốn phải bỏ ra để thu lợi nhuận.
Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chính xác hiệu quả của đầu tư. Vốn luôn vận động vì mục tiêu sinh lời. Nếu coi hình thái khởi đầu của vốn là tiền thì sau một quá trình vận động vốn có thể biến đổi qua các hình thái vật chất khác nhau, nhưng kết thúc chu kỳ vận động vốn lại trở lại trạng thái ban đầu là tiền. Phân loại vốn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân loại vốn theo công dụng kinh tế. Theo tác giả Nguyễn Minh Kiều trong giáo trình Tài chính Doanh nghiệp thì theo công dụng kinh tế, vốn của doanh nghiệp được chia thành vốn cố định, vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính.