CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÌNH THỨC KINH DOANH B2C 1.1 Khái quát chung về hình thức kinh doanh B2C 1.1 Tổng quan về thương mại điện tử và các mô hình kinh doanh thương mại điện tử 1.1 Khái niệm và đặc điểm của thương mại điện tử Thương mại điện tử được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, như “thương mại điện tử” (Electronic commerce), “thương mại trực tuyến” (online trade), “thương mại không giấy tờ” (paperless commerce) hoặc “kinh doanh điện tử” (e- business). Trong đó, “thương mại điện tử” là tên gọi phổ biến nhất và được dùng thống nhất trong các văn bản, các công trình nghiên cứu của các tổ chức và các nhà nghiên cứu. Thương mại điện tử có thể được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau như sau: - Dưới góc độ trao đổi thông tin: Thương mại điện tử là sự cung cấp hàng hóa, dịch vụ, thông tin và thanh toán qua mạng máy tính hoặc các phương tiện điện tử khác. - Dưới góc độ quá trình kinh doanh: Thương mại điện tử là sự ứng dụng công nghệ vào việc tự động hóa giao dịch kinh doanh và luồng công việc.
- Dưới góc độ dịch vụ: Thương mại điện tử là công cụ giúp cho các công ty, khách hàng, và các nhà quản lý giảm bớt phí dịch vụ nhưng đồng thời nâng cao chất lượng hàng hóa và tăng tốc độ cung cấp dịch vụ (Đinh Việt Đông, 2007, tr. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về “thương mại điện tử” (TMĐT) nhưng tựu trung lại có hai quan điểm lớn trên thế giới xin được nêu ra dưới đây. Theo nghĩa rộng thì TMĐT có thể được hiểu là các giao dịch tài chính và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liêuh điện tử, chuyển tiền điện tử và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng. Theo nghĩa hẹp thì TMĐT bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet mà không tính đến các phương tiện điện tử khác như điện thoại, fax, telex… 8 - Theo Tổ chức Thương mại Thế giới thì TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet.
- Theo tổ chức hợp tác phát triển kinh tế của Liên Hợp quốc thì TMĐT được định nghĩa là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet. Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại được tiến hành trên mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ “Thương mại điện tử”. Và theo nghĩa đó, đề tài sẽ nghiên cứu hoạt động kinh doanh thương mại điện tử B2C với nền tảng của công nghệ ứng dụng Internet theo nghĩa hẹp đó.2 Tính tất yếu của thương mại điện tử Có nhiều lý do cho sự ra đời và phát triển của thương mại điện tử, nhưng có một điều rõ ràng nhất là hình thức kinh doanh này không thể tách rời với sự ra đời và phát triển của Internet và công nghệ thông tin. Ở đây sẽ nghiên cứu một số nguyên nhân mang tính tất yếu của sự thay đổi này.
Môi trường kinh doanh bán lẻ đang thay đổi nhanh chóng Môi trường kinh doanh luôn chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố kinh tế, thị trường, xã hội và khoa học kỹ thuật. Hiện nay, những yếu tố này đang thay đổi rất nhanh và nhiều khi không thể dự đoán nổi. Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp buộc phải có những biện pháp để giải quyết và đối phó. Sự thay đổi của các công ty chuyên cung cấp bán lẻ đương nhiên phải được thực hiện trong kênh phân phối mở rộng thông qua sự tương tác giữa công ty với khách hàng, các nhà phân phối và những đối tác khác.
Việc tận dụng sức mạnh của kết nối Internet trong trường hợp này được xem là giải pháp phù hợp tốt nhất với sự thay đổi nhanh và khó dự đoán của môi trường kinh doanh. Do vậy, đối với các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ, việc chuyển dần từ mô hình kinh doanh truyền thống sang mô hình kinh doanh với sự hỗ trợ của Internet mang tính tất yếu. 9 Áp lực kinh doanh dẫn đến mô hình kinh doanh hiệu quả hơn - Áp lực kinh tế thị trường: Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, điều đó không những mang đến các cơ hội mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp bán lẻ mà còn đem về những rủi ro bị chiếm lĩnh thị phần tại thị trường nội địa, đặc biệt mạnh mẽ trong khâu phân phối. Để tận dụng cơ hội cũng như hóa giải thách thức, các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ buộc phải tìm đến một mô hình kinh doanh mới hiệu quả hơn trong việc mở rộng thị trường, rút ngắn thời gian tiếp cận và phản ứng với yêu cầu của khách hàng, đồng thời chi phí kinh doanh đến mức tối thiểu.
- Áp lực xã hội: Trong một môi trường kinh tế hội nhập như hiện nay, do những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường nên trình độ và tay nghề của người lao động ngày càng được nâng cao, lao động phổ thông đơn thuần dần nhường chỗ cho lao động đã trải qua đào tạo và có khả năng sử dụng công nghệ trong quá trình sản xuất kinh doanh. Việc áp dụng tiến bộ khoa học trong quá trình kinh doanh đã làm cho các doanh nghiệp phải có biện pháp sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm chi phí nhân công. Do đó, trong lĩnh vực phân phối và thương mại, nếu doanh nghiệp tiếp tục duy trì kênh phân phối truyền thống thì chi phí tiền lương cho nhân viên là rất lớn. Như vậy, cần phải có một phương thức kinh doanh phù hợp hơn, sử dụng ít lao động nhưng có trình độ và tay nghề cao làm giảm đáng kể chi phí cho doanh nghiệp.
TMĐT là một giải pháp phân phối dựa trên nền tảng công nghệ cao và phù hợp với yêu cầu đó. Ngoài ra, TMĐT còn giúp giảm việc phải di chuyển liên tục của người tiêu dùng để mua hàng hóa, qua đó giúp giảm áp lực lên cơ sở hạ tầng giao thông, giảm chi phí nhiên liệu cũng như góp phần giảm ô nhiễm môi trường. - Áp lực kỹ thuật: Sự cải tiến kỹ thuật và công nghệ mới diễn ra ngày càng mạnh. Mức độ mất giá do công nghệ lạc hậu diễn ra nhanh chóng hơn nhiều so với mất giá do hao mòn hữu hình vì thế lợi thế cạnh tranh nằm ở khâu tiếp cận và sử dụng công nghệ mới.
Vòng đời một sản phẩm ngày càng bị rút ngắn vì luôn luôn có công nghệ và máy móc mới thay thế. Việc áp dụng Internet trong thương mại là một biện pháp tiếp cận công nghệ nhanh chóng, hiệu quả mà thương mại truyền thống không thể có được. Một siêu thị thực càng lớn thì chi phí duy trì, chi phí cho kỹ thuật quản lý hay 10 kho tàng càng lớn mà những vấn đề này được giải quyết tốt hơn khi ứng dụng công nghệ thông tin trong kinh doanh. Hơn thế nữa, tỷ lệ chi phí kỹ thuật trên kết quả kinh doanh giảm mạnh trong những năm gần đây cho thấy xu hướng áp dụng những phương thức kinh doanh mới, tiết kiệm hơn mà doanh nghiệp không thể bỏ qua.
- Ngoài ra sự quá tải thông tin đối với người tiêu dùng hiện nay chính là cơ hội để các doanh nghiệp đưa ra những giải pháp tốt hơn nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng. Xã hội càng phát triển, thông tin đến với người tiêu dùng càng nhiều khiến họ không thể xử lý hết được. Khách hàng không thể nhớ hết tất cả các cửa hàng và hàng hóa và lại càng không thể so sánh các đặc tính hay giá cả giữa hàng trăm cửa hàng ở những khu vực địa lý khác nhau (Đinh Việt Đông, 2007, tr.3 Các mô hình kinh doanh thương mại điện tử Một cách phân loại phổ biến của thương mại điện tử là dựa vào tính chất của giao dịch. Có các hình thức thương mại điện tử sau: Mô hình giao dịch B2C (Business to consumer) Mô hình thương mại điện tử B2C là mô hình thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Đây là mô hình thương mại điện tử được nhiều người sử dụng nhất hiện nay. Theo mô hình này, các doanh nghiệp thương mại điện tử tiến hành nhiều hoạt động để có thể tiếp cận được với người tiêu dùng cá nhân. - Mô hình bán lẻ trực tuyến (e-tailer): Mô hình bán lẻ trực tuyến B2C giống mô hình bán hàng truyền thống nhưng có điểm khác biệt là khách hàng sẽ truy cập Internet để kiểm tra xem có còn hàng trong kho hay không, tiến hành đặt hàng và thanh toán ngay trên ứng dụng của doanh nghiệp. - Mô hình bán thương mại điện tử “brick and click”: tức là vẫn tiến hành hoạt động bán hàng truyến thống bên cạnh hoạt động bán hàng trực tuyến.
- Mô hình thương mại điện tử thuần túy: tức là tiến hành hoạt động kinh doanh hoàn toàn thông qua môi trường mạng và không xây dựng các gian hàng ngoài đời thực. - Mô hình thương mại điện tử B2C đem lại “giá trị gia tăng” cho khách hàng: Trong mô hình này, doanh nghiệp đóng vai trò là trung gian gắn kết mọi người với 11 nhau. Ví dụ, với mô hình môi giới giao dịch B2C, doanh nghiệp đóng vai trò là người trung gian cung cấp các dịch vụ về tài chính, du lịch, việc làm… cho người sử dụng dịch vụ. - Ngoài ra, một mô hình thương mại điện tử B2C, có thể có sự kết hợp nhiều mô hình thương mại điện tử khác như mô hình bán lẻ trực tuyến, mô hình môi giới giao dịch, mô hình cung cấp dịch vụ, mô hình cổng giao dịch, mô hình cung cấp nội dung và mô hình xây dựng cộng đồng (Nguyễn Phương Chi, 2010, tr.
Mô hình giao dịch B2B (Business to business): Tất cả các bên tham gia trong hình thức thương mại điện tử này là các doanh nghiệp hoặc tổ chức. Mô hình giao dịch C2C (Consumer to consumer) Trong hình thức này, người dùng bán trực tiếp cho các người dùng khác. Ví dụ: cá nhân rao bán nhà đất và ô tô; quảng cáo về các dịch vụ cá nhân trên mạng; bán kiến thức và chuyên môn trên mạng. Một ví dụ khác là các trang Web đấu giá cho phép các cá nhân đưa hàng lên mạng để đấu giá.
Hơn nữa, nhiều cá nhân sử dụng các trang Web cá nhân và mạng nội bộ để quảng cáo hàng hóa và các dịch vụ cá nhân.