Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị nội dung thông tin quốc tế đối nội Chương 2: Thực trạng quản trị nội dung thông tin quốc tế đối nội TTXVN Chương 3: Những van dé đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng quản trị nội dung thông tin quốc tế đối nội của TTXVN. 15 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN TRI NỘI DUNG THONG TIN QUOC TE DOI NOI 1. Một số khái niệm cơ ban 1.1 Khai niệm Thông tin Trong tiếng Latin “thông tin” - “Informatio” có nghĩa là thông báo, tóm tắt, giải thích. Nó có nghĩa là sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng nào đó được mọi người quan tâm.
Thông tin cũng có thê là những thông báo về những sự việc, đối tượng và hiện tượng xảy ra xung quanh chúng ta. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo. Thông tin có nghĩa “Đồng tir: là truyền tin, báo tin cho những người khác biết. Diéu tin, tin được truyền di cho biết (nói khái quát).
Sự truyền dat, phan ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết thé giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó”. Còn theo giáo trình “Cơ sở lý luận báo chi” của Nguyễn Văn Dững, xuất ban năm 2012, từ thông tin được sử dụng với ý nghĩa khác nhau trong các tình huống cụ thể: - Thông tin là một loại hình hoạt động dé chuyén di các nội dung thông báo. Hoạt động thông tin không chỉ có trong xã hội loài người. Ngay trong thiên nhiên cũng có những hoạt động thông tin phức tạp, đa dạng của các loài động vật khác nhau.
- Thông tin được dùng dé chỉ chất lượng nội dung của thông báo nói chung, trong trường hợp này người ta xem xét đánh giá chất lượng nội dung thông qua lượng thông tin được chuyền đến đối tượng tiếp nhận.19] Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, tác giả định nghĩa thông tin là hoạt động tin tức một cách có chủ đích, chọn lọc sao cho phù hợp với tiêu chí hoạt động của mỗi một cơ quan báo chí dé truyền tải nội dung tới công chúng. Thông tin được thể hiện dưới dạng như tin, phản ánh, phóng sự, phỏng van, bình luận. nhằm thông báo về một sự việc hoặc một hiện tượng nào đó đang diễn ra trong xã hội. Ngoài tính mới, thông tin phải chính xác, nhanh chóng, kip thời, trung thực, đúng 16 định hướng, thiết thực với công chúng.
Về hình thức thông tin được thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh và âm thanh. Về mục đích thông tin giúp công chúng trong một khoảng thời gian ngắn nhất, nhanh nhất biết có sự kiện gì xảy ra, ngoài ra còn giúp hiểu sâu về sự kiện đó.2 Thông tin quốc té Trong tiếng Anh, tin được gọi là news; người Trung Quốc gọi là tdn văn; tiếng Nga là Hoboctb. Những từ trên đều bắt nguồn từ nghĩa đen là “mới”. Theo tác giả Hoàng Phê, trong từ điển Tiếng Việt, từ “quốc tế” đã được định nghĩa là “Các nước trên thế giới trong quan hệ với nhau [31, tr.
Tin quốc tế đóng vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống thông tin báo chí nói chung. Ở bất kỳ cơ quan báo chí nào, và bất kỳ một chương trình thời sự nào của đài truyền hình, phát thanh đều dành một thời lượng nhất định cho thông tin về các van đề quốc tế. Thông tin quốc tế chính là cầu nối giữa thé giới bên ngoài với một nước cụ thé. Theo tác giả Đỗ Xuân Hà, trong cuốn “Báo chí với thông tin quốc tế”, xuất ban năm 1999, báo chí quốc tế là một thuật ngữ để chỉ sự hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm thông tin những vấn đề về các nước ngoài cho nhân dân nước mình.
[11, tr 8] Vì thé có thé hiểu, “thông tin quốc tế” là loại thông tin về sự vật, hiện tượng diễn ra bên ngoài biên giới quốc gia được được chuyên dịch từ một số ngoại ngữ sang tiếng Việt cho công chúng báo chí Việt Nam; hoặc do các phóng viên Việt Nam tác nghiệp ở nước ngoài trực tiếp viết về các van đề quốc tế va các van dé quốc tế có liên quan đến Việt Nam. Từ những nghiên cứu trên, tác giả khái quát thông tin quốc tế như sau: “Thông tin quốc tế là những vấn dé về chính trị, đời sống, văn hóa, kinh tế. của các nước ngoài hoặc về quan hệ giữa nước này với nước khác ” 1.3 Thông tin quốc tế doi nội Cũng theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, từ “quốc tế” được định nghĩa là “Các nước trên thế giới trong quan hệ với nhau”, còn “đối nội” là “đối với trong nước, trong nội bộ, nói về đường lối, chính sách của nhà nước, của một tổ chức”. [31, tr 225] 17 Trước đây, có nhiều người gọi thông tin quốc tế là tin dich.
Thế nhưng, cách gọi như vậy tạo ra cách hiểu chưa chính xác về thông tin quốc tế. Đó là, nó khiến người ta nghĩ răng thông tin quốc tế được dịch vào tiếng Việt như dịch các loại văn bản ngoại ngữ khác; thứ hai, nó dễ nhằm lẫn với loại tin dịch từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài nhằm mục đích phát sóng đối ngoại. Do vậy, xét về phương diện thuật ngữ, thuật ngữ “thông tin quốc tế đối nội” có nội hàm xác định hơn. Ở Việt Nam, thông tin trên báo chí được phân chia thành 3 lĩnh vực, đó là: Thông tin trong nước, thông tin quốc tế đối nội và thông tin đối ngoại.
Sở sĩ có cách phân loại này là do dựa vào đối tượng thông tin đang hướng đến. Thông tin quốc tế đối nội là thông tin day đủ, nhanh va bao quát được tat cả những vấn đề lớn của thế giới, nổi bật là những sự kiện chính tri, ngoại giao, quân sự, an ninh, kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ lớn đến với công chúng báo chí. Nhiệm vụ của tin quốc tế đối nội là phản ánh diễn biến tình hình thế giới mang tính định hướng cao, những hoạt động ngoại giao, hội nhập tích cực, chủ động của nước ta cũng như phản ánh kịp thời dư luận thế giới nhiều mặt về Việt Nam, giúp lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong việc nhận định tình hình thế giới và góp phần hoạch định chính sách đối ngoại trong bối cảnh thé giới liên tục biến động phức tạp, có nhiều mối quan hệ đan xen. Chính vì thế, không phải tất cả tin quốc tế đều được dịch để trở thành tin quốc tế đối nội.
Có những tin quốc tế được dịch nguyên văn dé lãnh đạo Dang, Nhà nước tham khảo, nam tình hình. Khi trở thành tin quốc tế đối nội đăng trên các ấn phẩm báo chí là những tin dành cho tất cả công chúng báo chí thì phải đảm bảo nhiệm vụ phục vụ có hiệu quả cho công cuộc đôi mới, cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Từ những cách hiểu trên, tác giả khái quát thông tin quốc tế đối nội như sau: “thông tin quốc tế đối nội là những thông tin quốc tế về các sự kiện, sự việc diễn ra bên ngoài lãnh thé Việt Nam được đăng tải trên các ấn phẩm báo chí Việt Nam theo định hướng của Đảng và Nhà nước ” 1.4 Quản trị Theo Từ điển tiếng Việt, “Quản là trông coi, điều khiển”, “Trị là đưa vào khuôn khổ”, “Quản trị có nghĩa là quản lí, điều hành công việc hàng ngày” [31, 18 tr. Quản trị là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều lĩnh vực.
Ví dụ quản trị hành chính (trong các tô chức xã hội), quản trị kinh doanh (trong các tổ chức kinh tế). Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh lại chia ra nhiều lĩnh vực: Quản trị tài chính, quan trị nhân sự, quản trị Marketing, quản trị sản xuất. Trong giáo trình quản trị học, do PGS, TS Đoàn Thị Thu Hà và PGS, TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền, NXB 2011 đã viết: “quản tri là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường ”[12, tr.12, tr 13] Quản trị được giải thích bằng nhiều cách khác nhau và cũng chưa có một định nghĩa nào hoản toàn duoc tất cả mọi người chấp thuận. Theo Mary Parker Follett thì cho rằng “quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác”.
Định nghĩa này cho rằng những nhà quản trị đạt được các mục tiêu của tô chức băng cách sắp xếp, giao việc cho những người khác thực hiện chứ không phải là do chính mình hoàn thành công việc. [ 43, tr 2] Từ những định nghĩa trên, tác giả đưa ra định nghĩa về quản trị như sau: “Quản trị là quá trình chủ thể quản trị điều hành các đối tượng một cách thường xuyên, liên tục, có t6 chức lên đối tượng quản tri dé thực hiện những mục tiêu đã đề ra một cách nhanh chóng, có hiệu quả, it ton tài nguyên và mang lại kết quả thiết thực. Trong hoạt động quản trị có sự phối hợp giữa các bộ phận, cá nhân, nguồn lực dé đạt đến mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất.5 Quản trị nội dung thông tin quốc té đối nội Trong bộ Tư bản, Mac có đưa ra, là cách một cơ quan báo chí sử dụng các phương thức dé lập kế hoạch, tập hợp, phổ biến và sáng tạo một cách có hiệu qua thông tin. Thông qua quản trị nội dung thông tin, các cơ quan, tổ chức có thể đảm bảo giá trị của các thông tin được xác lập và sử dụng tối đa, nhằm phục vụ tối đa tôn chỉ, mục đích của các cơ quan, tổ chức.
Quản trị nội dung thông tin thường được thé hién trén cac khia canh sau: - Quản trị nội dung thông tin dé đảm bao thông tin được phan ánh chính xác, khách quan, cân bằng và công bằng. 19 - Quản trị về số lượng, tần suất xuất hiện thông tin: Các cơ quan báo chí cần phải quản trị dé số lượng, liều lượng, mật độ thông tin về các lĩnh vực quan trọng được thê hiện - Quản trị về quy trình sản xuất tin, bài: Việc quản trị sản xuất tin bài của các cơ quan báo chí phải được đảm bảo để thông tin đáp ứng các yêu cầu về tính chính xác, khách quan, trung thực. Đồng thời đáp ứng yêu cầu tính nhanh nhạy, hợp thời, hợp thời của thông tin.