Chương 1: Ly luận chung về quản lý vốn dau tư gián tiếp nước ngoài thông qua thị trường chứng khoản. Chương 2: Thực trang quản lý vốn dau tư gián tiếp nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán ở Việt Nam. Chương 3: Giải pháp tăng cường quản ly vốn dau tư gián tiếp nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán ở Việt Nam. 13 CHUONG I LY LUAN CHUNG VE QUAN LY VON DAU TU GIAN TIEP NUOC NGOAI VAO VIET NAM 1.1 - Nhận thức chung về quản lý vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài 1.1 - Khái niệm vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài Theo lý thuyết đầu tư, có hai hình thức đầu tư chủ yếu là: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài dùng dé chỉ các hoạt động dau tu vật chất của nhà đầu tư của một nền kinh tế vào việc hình thành nên một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác nhăm mục đích kinh doanh lâu dai. Khái niệm đầu tư gián tiếp xuất hiện khi thị trường chứng khoán (TTCK) phát triển, việc mua bán cô phiếu, trái phiếu trở nên phô biến, nhiều nhà đầu tư thay vì phương thức đầu tư trực tiếp truyền thong đã lựa chọn phương thức đầu tư thông qua một công ty khác (thường là các tổ chức tài chính) hoặc mua cô phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp. Đề phản ánh các hoạt động trên, thuật ngữ “portfolio investment” (đầu tư theo danh mục) được đưa ra. Như vậy, thuật ngữ này phản ánh các hoạt động đầu tư không phải là đầu tư trực tiếp truyền thống.
Khi TTCK phát triển ở quy mô quốc tế, hoạt động mua bán chứng khoán được mở rộng cho các nhà đầu tư quốc tế và được tô chức liên thông ở nhiều TTCK khác nhau, ranh giới giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) trở nên khó phân định, từ đó cách hiểu về FDI và FPI có sự thay đổi đáng kẻ. 14 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được mở rộng cho cả các hoạt động đầu tư thông qua hoạt động mua bán cô phiếu của doanh nghiệp nước ngoài (tức là thông qua phương thức đầu tư gián tiếp) với điều kiện quyền sở hữu cô phiếu đạt tới hoặc vượt qua giới hạn cho phép nhà đầu tư có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp. Ở Việt Nam, giới hạn này là 30%, trong khi ở nhiều nước khác trên thế giới là 10%. Bên cạnh đó, sự phát triển của các dạng sở hữu nhiều tầng theo mô hình mẹ - con hoặc sở hữu chéo (ví dụ công ty A sở hữu 40% Công ty B ở nước ngoài, Công ty B lại sở hữu 20% công ty C) dẫn đến sự phức tạp trong việc xác định đâu là đầu tư trực tiếp, đâu là đầu tư gián tiếp.
Do đó, trong hệ thống thuật ngữ quốc tế, khi nói đến đầu tư gián tiếp nước ngoài đều được gọi là “portfolio investment” và không có sự phân biệt giữa hai thuật ngữ này. Tuy nhiên, cũng có một số quan điểm lại cho rang “indirect investment” được sử dung trong mối quan hệ với đầu tư trực tiếp, có nghĩa là chỉ bao gồm những đầu tư vào doanh nghiệp thông qua việc mua cô phiếu doanh nghiệp (không ké đầu tư mua trái phiếu hoặc các chứng chỉ có giá khác) ở giới hạn chưa trở thành đầu tư trực tiếp. Con “portfolio investment” có nghĩa rộng hơn là hình thức đầu tư bằng việc mua cổ phiếu, trái phiếu mà thông qua đó nhà đầu tư có thé trực tiếp sở hữu và quản lý doanh nghiệp (trở thành đầu tư trực tiếp) hoặc không trực tiếp quản lý doanh (indirect investment). Trong hệ thống thuật ngữ kinh tế và chính sách của Việt Nam đã sử dụng thuật ngữ đầu tư trực tiếp và gián tiếp, chưa có thuật ngữ thứ ba.
Do vậy, có thê coi thuật ngữ đầu tư gián tiếp của Việt Nam tương đương với cả hai thuật ngữ 15 “portfolio investment” va “indirect investment’. Vi vậy có thê định nghĩa vê dau tu gián tiêp nước ngoai như sau: Đầu tư gián tiếp nước ngoài (foreign Indirect Investment — FII) hay còn gọi là đầu tư nước ngoài theo danh mục (Foreign Portfolio Investment — FPI) là các khoản vốn được huy động từ nước ngoài đầu tư vào các chứng khoán cô phần (equity securities) hoặc các chứng khoán nợ. Khi thực hiện đầu tư gián tiếp, các nhà đầu tư nước ngoài không quan tâm đến quá trình sản xuất kinh doanh thực tế mà chỉ quan tâm đến lợi tức hoặc sự an toàn của các chứng khoán mà họ đầu tư vào. Như vậy, đầu tư gián tiếp đơn thuần chỉ là hoạt động đầu tư tài chính và không đi kèm với bat kỳ hoạt động chuyền giao tài sản vô hình, ví dụ như: bí quyết kinh nghiệm quản lý.2 — Đặc điểm cơ bản của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài Tính thanh khoản cao Vì mục tiêu của FPI là lợi nhuận nên các nhà đầu tư nước ngoài chỉ quan tâm đến mức độ an toàn của chứng khoán chứ họ không hề quan tâm đến việc quản lý quá trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp nên FPI có tính thanh khoản cao.
Hay nói một cách khác, mặc dù bản chất của FPI là vốn đầu tư dài hạn (vì đầu tư vào cô phiếu và trái phiếu), nhưng trên thực tế do tính chất của loại vốn này khá đặc biệt, các nhà đầu tư nước ngoài có thể rút vốn bất kỳ lúc nào mà họ muốn nên FPI được xem là vốn ngắn hạn. Khi nền kinh tế tăng trưởng tốt và môi trường đầu tư thuận lợi, các nhà đầu tư nước ngoai có thể sẽ đầu tư nhiều vốn đầu tư đa dạng FPI vào một thị trường mới nổi nào đó. Nhưng ngược lại, các nhà đầu tư có thé rút vốn bất ké lúc nào ra khỏi đất nước đó nếu họ cảm thấy không muốn đầu tư. 16 Tính bất 6n định (volatility) và dễ bị đảo chiều (reversibility) Với đặc điểm vốn có thé chảy vào/ hoặc chảy ra khỏi một nền kinh tế rất nhanh, luồng vốn FPI luôn được xem như là loại vốn có tinh bất ôn định cao và dễ bi đảo chiều.
Mặc dù về lý thuyết thị trường tài chính, tinh bất ôn định trong một chừng mực nào đó có thể là có lợi khi nó tạo những cơ hội kinh doanh với lợi nhuận cao hoặc những cơ hội kinh doanh chênh lệch giá. Những cơ hội này sẽ thu hút các nhà đầu tư và khiến cho thị trường tài chính nội địa hoạt động hiệu quả và năng động hơn. Tính chất bất 6n định còn chỉ ra rang thị trường đang tìm kiếm những hình thức phân bồ vốn tốt nhất cho những cơ hội kinh tế hiện hành. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tốt, tính chất bất ôn định sẽ trở nên phản tác dụng khi thị trường thường xuyên dao động mạnh ở mức độ lớn sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến toàn bộ thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Đặc biệt là, khi kết hợp cả hai đặc tính trên (bất ôn và thanh khoản cao) với một mức độ cao có thé gây ra tình trạng các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn trong bối cảnh nền kinh tế xuất hiện những dấu hiệu không ổn định hoặc ngay cả khi lòng tin của giới đầu tư bị giảm sút. Nhiều hình thức khác nhau và rất phức tap (complexity) Ngoài ra, vốn FPI còn có đặc tính là tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và rất phức tạo, như trái phiếu, cô phiếu, giấy nợ thương mại hoặc dưới dạng công cụ phái sinh. Những số liệu thống kê về vốn FPI thường là rất khó thu thập va chỉ được thay trong tài khoản von của can cân thanh toán của các nước.3 — Phân biệt giữa vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài với vốn đầu tư trực tiêp nước ngoài 17 Hiện nay, ranh giới giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) vẫn còn rất mong manh và đôi khi khó phân biệt nên đã gây ra nhiều tranh cãi vì hai hình thức đầu tư nước ngoài này nhiều khi còn chồng chéo. Dé có thé phân biệt được một cách chính xác giữa hai loại hình đầu tư này, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã đưa ra định nghĩa về FDI như sau: “FDI là hoạt động đầu tư quốc tế trong đó người đầu tư có lợi ích lâu dai đối với một công ty thuộc nước khác.
FDI bao gồm cả các hình thức góp vốn như mua cổ phiếu hay tái đầu tư thu nhập do các công ty ở nước ngoài thực hiện, và các khoản cho vay vốn cho chi nhánh hoặc công ty con ở nước ngoài. Hoạt động tái đầu tu thu nhập và chuyển nhượng tai sản giữa công ty mẹ và công ty con của nó thường được tính đến như là một phan đáng ké của FDI”. Như vây, nếu chỉ nhìn bên ngoài, dựa trên các định nghĩa của các dòng vốn đầu tư nước ngoài thì chúng ta có thé dé dang phân biệt được FPI với FDI, nhưng trên thực tế, hai hình thức vốn này đôi khi bị chồng chéo rất khó có thể phân loại được. Chính vì vậy, chúng ta cần phải làm rõ những đặc điểm giống nhau và khác nhau của hai dòng von này dé có thé giúp Chính phủ quản lý tốt hơn.
*/ Những điểm khác nhau giữa FPI và FPI Mặc dù FPI và FDI đều là những nguồn vốn đầu tư nước ngoài với nhiều nét tương đồng, nhưng xét về đặc điểm, hình thức, mục đích đầu tư và ngay cả phương thức quản lý thì chúng lại có sự khác nhau rõ rệt, cụ thê là: - Khác nhau về mục dich dau tư: Đâu tư trực tiêp nước ngoài bao gôm các khoản đâu tư trực tiép từ các nhà đầu tư nước ngoài vào công ty, thường thì khoản đầu tư này chiếm tỷ trọng sở 18 hữu lớn trong công ty. Các nhà đầu tu FDI có thé tham gia góp vốn với mục đích kiểm soát, quản lý quá trình sản xuất, kinh doanh và như vậy các nhà lãnh đạo của các công ty này cũng có thể sẽ bị chịu sự chỉ đạo của các nhà đầu tư nước ngoài này. Ngược với FDI, FPI bao gồm các khoản đầu tư thông qua một định chế tài chính trung gian, ví dụ như quỹ đầu tư hoặc đầu tư trực tiếp vào cổ phần của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Không giống như FDI, các nhà đầu tư FPI cũng có thé tham gia góp vốn vào các công ty nhưng lại không có quyền kiểm soát, điều hành công ty.
Mục đích của các nhà đầu tư FPI là tìm kiêm lợi nhuận cao với mức độ rủi ro nhât định.