Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản lý thiết chế văn hóa và khái quát về xã Dân Lực, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chương 2: Công tác quản lý thiết chế văn hóa trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Dân Lực, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết chế văn hóa trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Dân Lực, huyện Triệu Sơn,tỉnh Thanh Hóa. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ THIẾT CHẾ VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT VỀ XÃ DÂN LỰC, HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA 1.
Cơ sở lý thuyết về quản lý thiết chế văn hóa. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm thiết chế Trong tập bài giảng “Quản lý TCVH” dùng cho các lớp Cao học, chuyên ngành quản lý văn hóa tác giả Nguyễn Hữu Thức đã đưa ra khái niệm: “Thiết chế là một tổ chức do con người lập ra có mối rằng buộc chặt chẽ ở bên trong giữa con người với công việc thông qua các quy tác, quy định và điều kiện để thực hiện công việc theo ý muốn chủ quan của con người” [46, tr. Đồng thời, tác giả nhấn mạnh trong cuộc sống có các thiết chế: Thiết chế kinh tế, TCVH, thiết chế xã hội.
Thiết chế xã hội bao gồm: gia đình, xóm làng, trường học, y tế… trong đó, thiết chế xã hội ra đời đáp ứng nhu cầu sinh tồn; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn; hướng tới các chuẩn mực giá trị tinh thần. Thiết chế là một tổ chức xã hội có kết cấu bên trong khá chặt chẽ. Nó ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu thường xuyên của con người cho nên nó tồn tại bền vững trong đời sống xã hội. Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt, “thiết chế” có nghĩa như “thể chế”, và định nghĩa thiết chế là “Quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo” [31, tr.
Như vậy có thể hiểu, thiết chế là một tổ chức xã hội có kết cấu chặt chẽ, nó ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu thường xuyên của con người nên thiết chế tồn tại rất bền vững. Các thiết chế phục vụ mục đích, nhu cầu của con người nên thường được gọi chung bằng cụm từ “Thiết chế xã hội”. Khái niệm thiết chế văn hóa TCVH là một chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ tính riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là TCVH. Trong TCVH có hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ cồng đồng thuộc ngành văn hóa, có hệ thống cơ sở văn hóa thể thao phục vụ công nhân, viên chức, lao động và cũng có hệ thống cơ sở vật chất thuộc các ngành, bộ…Hệ thống cơ sở vật chất chính là địa điểm chủ yếu để tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến các nhiệm vụ chính trị - xã hội ở địa phương.
Trong cuốn giáo trình bậc Trung cấp lý luận chính trị - hành chính do Học viện chính trị Quốc gia Hồ chí Minh ban hành, thì: “TCVH là nơi diễn ra, chuyển tải các hoạt động văn hóa. Thiết chế văn hóa hữu hình và vô hình - cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức bộ máy, cơ chế chính sách bảo đảm cho các hoạt động văn hóa” [23, tr. Như vậy, theo tác giả luận văn, TCVH có thể hiểu: “Là nơi đáp ứng nhu cầu sáng tạo, học tập, trao đổi, hưởng thụ, gìn giữ văn hóa, luyện tập thể dục thể thao của các tầng lớp nhân dân; giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, xã hội ở địa phương; là cơ sở vật chất, công cụ trực tiếp và đắc lực của cấp ủy, chính quyền trong lãnh đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụ chính trị”. Khái niệm thiết chế văn hóa cơ sở Khái niệm TCVH tác giả còn được trình bày trong cuốn sách TCVH cơ sở ở Thanh Hóa trong thời kỳ mới” do tác giả Nguyễn Thị Thục chủ biên, ấn hành năm 2016: “TCVH là hệ thống những giá trị chuẩn mực và các vai trò xã hội của văn hóa được thiết lập, tạo thành các hệ thống công cụ, kỹ thuật, quan điểm chi phối các hoạt động VHXH nhằm thoả mãn cao nhất nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của cộng đồng” [44, tr.
13 Nội dung cuốn sách cũng đề cập đến việc, để trở thành một TCVH cần có bốn yếu tố cơ bản: (1) Có tổ chức dân sự; (2) Có bộ máy quản lý điều hành; (3) Có thể chế để vận hành; (4) Có trụ sở và các trang thiết bị chuyên dụng (gọi chung là cơ sở vật chất). Có thể nhận xét, hệ thống TCVH, cụ thể là TTVH-TT là địa điểm diễn ra chính để tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến các nhiệm vụ chính trị - xã hội ở địa phương; tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT quần chúng, là môi trường để nhân dân địa phương đóng góp ý kiến với cấp ủy, chính quyền địa phương. Địa phương có nhiều công dân tốt, nhiều gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa là những tế bào khỏe mạnh góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước “công bằng, dân chủ, văn minh và tiến bộ”. Theo đó, TCVH cơ sở bao gồm TCVH ở cấp xã, phường, thôn, bản, ấp.
là một tầng bậc trong hệ thống TCVH chỉ mức độ, quy mô của thiết chế được thiết kế phù hợp với đặc điểm, nguồn lực văn hóa, kinh tế của mỗi cộng đồng dân cư. TCVH cơ sở cũng bao gồm đầy đủ các yếu tố và hệ thống cơ sở vật chất của một TCVH. TCVH cơ sở được tạo dựng để phục vụ nhu cầu văn hóa tinh thần của người dân ở cơ sở, do cơ sở quản lý. Từ khái niệm TCVH và khái niệm cơ sở có thể hiểu: TCVH cơ sở chỉ các cơ quan, đơn vị cấp xã, phường hoạt động văn hóa do nhà nước hoặc cộng đồng xã hội lập ra trong khuôn khổ pháp luật hoặc quy chế của ngành, đoàn thể nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân địa phương, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở đơn vị cấp cơ sở.
TCVH cơ sở là một trong những yếu tố góp phần quan trọng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa địa phương và từ lâu đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, một chủ trương lớn của Đảng được xây dựng thành những chương trình phát triển TCVH cơ sở cho cộng đồng dân cư ở các cấp địa phương trong cả nước thời gian qua. 14 Trong xu thế xã hội hóa, có nhiều công trình văn hóa mới xuất hiện, tuy nhiên TCVH cơ sở hay cụ thể hơn là TTVH-TT xã, thị trấn vẫn giữ vai trò quan trọng, có chức năng giáo dục ngoài nhà trường, trở thành ngôi nhà chung của cộng đồng dân cư địa phương. Khái niệm quản lý + Khái niệm Quản lý Quản lý là một thuật ngữ, một khái niệm được quan tâm từ rất sớm và được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt, “quản lý” được hiểu theo hai nghĩa đó là: (1) Tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan; (2) Trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì [31, tr.
Quản lý được xem là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống xã hội. Hoạt động quản lý luôn vận động trong một môi trường luôn biến đổi nên mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ “quản lý” có những đặc điểm rất đặc thù, mỗi khi nói đến “quản lý” nhắc con người luôn nghĩ đến sự phát triển. Do sự đa dạng trong hoạt động và nội dung tiếp cận, nên “quản lý” là đối tượng nghiên cứu của khoa học liên ngành. Mỗi lĩnh vực có những khái niệm khác nhau về thuật ngữ này.
Trong khoa học tự nhiên, quản lý được định nghĩa: Quản lý là sự điều khiển, định hướng, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình và căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc, luật tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý, nhằm đạt được mục đích đã định trước. Trong xã hội có ba loại hình quản lý: quản lý giới vô sinh, quản lý giới sinh vật, quản lý xã hội loài người, trong đó quản lý trong xã hội chính là quản lý con người. Theo Các Mác thì quản lý xã hội được coi là chức năng đặc biệt được sinh ra từ tính chất xã hội lao động. Ông cho rằng, bất kỳ một lao động xã hội 15 hay cộng đồng nào cũng được tiến hành trên quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự quản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hòa giữa các công việc riêng rẽ và thực hiện chức năng chung nhất xuất phát từ sự vận động của toàn bộ cơ cấu sản xuất.
Như vậy, quản lý ở khía cạnh quản lý xã hội là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được tới mục đích, đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan. Ở khía cạnh này, quản lý xã hội bao gồm các yếu tố: Chủ thể (con người và cơ quan tổ chức của con người) với hoạt động quản lý; khách thể (hành vi và hoạt động của con người) với hoạt động bị quản lý; mối quan hệ qua lại giữa chủ thể và khách thể. Quá trình quản lý xã hội được thực hiện là nhờ thực hiện mối quan hệ quyền lực phục tùng giữa quản lý với người bị quản lý, đó là quyền quản lý Vì vậy, quản lý xã hội nói chung hoặc quản lý một lĩnh vực xã hội cụ thể cũng cần tôn trọng những nguyên tắc để đảm bảo cho từng cá nhân phát triển. Thông qua nội hàm của các khái niệm nêu trên, tác giả luận văn cho rằng: “Quản lý là chỉ chức năng giám sát, thâu tóm, nắm giữ quyền chi phối một công việc, một lĩnh vực có liên quan đến con người, tài nguyên, thời gian.
được nhà lãnh đạo quyết định giao cho một người cụ thể, người đó phải đủ điều kiện quản lý, điều hành theo một chủ ý nhất định”. + Quản lý văn hóa Khái niệm QLVH được đề cập trong một số công trình, tiêu biểu phải kể đến cuốn “Lược sử QLVH ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Sơn Cường và QLVH được tác giả định nghĩa: “Quản lý văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành cho văn hóa phát triển không ngừng theo hướng có ích cho con người, giúp cho xã hội loài người không ngừng đi lên” [13,tr.