Luận văn thạc sĩ quản lý di tích lịch sử văn hóa tỉnh Hà Nam

Tôi có thể tạo meta tags cho bài viết của bạn như sau: { "ai_description": "Tìm hiểu phương pháp quản lý văn hóa và bảo tồn di tích lịch sử văn hóa tại Hà

Chuyên ngành

Quản lý văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

200
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn quản lý di tích lịch sử văn hóa tỉnh Hà Nam

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa tập trung nghiên cứu công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh Hà Nam. Hà Nam sở hữu hệ thống di tích phong phú gồm 15 di tích cấp quốc gia và hàng trăm di tích cấp tỉnh, mang đậm giá trị lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng. Các di tích này không chỉ là minh chứng cho quá trình hình thành và phát triển của vùng đất này mà còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng. Việc quản lý hiệu quả những di sản này đòi hỏi sự kết hợp giữa cơ sở pháp lý vững chắc, nguồn nhân lực chuyên môn và sự tham gia của cộng đồng. Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng quản lý, xác định những tồn tại và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích.

1.1. Hệ thống di tích lịch sử văn hóa tại Hà Nam

Hà Nam sở hữu 15 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và hơn 100 di tích cấp tỉnh, phân bố đều trên địa bàn 6 huyện, thành phố. Các di tích bao gồm đình, chùa, đền, miếu, lăng mộ và di tích cách mạng, tiêu biểu như đình Triều Hội, chùa Bà Đanh, đền Lảnh Giang. Mỗi di tích đều gắn liền với những sự kiện lịch sử, truyền thống văn hóa hoặc tín ngưỡng tâm linh đặc sắc của địa phương. Theo thống kê, 10 di tích tiêu biểu được lựa chọn để nghiên cứu sâu do có giá trị lịch sử nổi bật, được xếp hạng cấp quốc gia và quản lý tương đối tốt. Những di tích này không chỉ bảo tồn nguyên vẹn cấu trúc gốc mà còn phát huy vai trò trung tâm văn hóa của cộng đồng.

1.2. Giá trị văn hóa và vai trò của di tích

Các di tích lịch sử văn hóa tại Hà Nam mang giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật và tín ngưỡng sâu sắc. Chúng là minh chứng sinh động cho quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, đồng thời phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cư dân địa phương. Đặc biệt, các di tích như đình Triều Hội thờ tướng nhà Trần Câu Mang tôn thần hay chùa Bà Đanh gắn liền với những truyền thuyết dân gian, trở thành điểm đến tâm linh thu hút du khách. Ngoài ra, di tích còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, bảo vệ di sản cho thế hệ trẻ. Việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích không chỉ bảo vệ di sản mà còn thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa, nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh.

II. Thực trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa tại Hà Nam

Công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại Hà Nam đang đối mặt với nhiều thách thức do thiếu đồng bộ giữa hệ thống pháp luật, năng lực quản lý và sự tham gia của cộng đồng. Mặc dù tỉnh đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật dựa trên Luật Di sản văn hóa 2001 và các nghị định hướng dẫn, nhưng việc triển khai thực tế vẫn còn hạn chế. Nhiều di tích cấp tỉnh chưa được xếp hạng chính thức, dẫn đến tình trạng xuống cấp do thiếu kinh phí tu bổ. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt nguồn nhân lực có chuyên môn về quản lý di sản, đặc biệt là ở cấp huyện và xã, khiến công tác quản lý gặp nhiều khó khăn. Các cơ quan chức năng cũng chưa triển khai hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, dẫn đến tình trạng xâm hại di tích do ý thức cộng đồng chưa cao.

2.1. Cơ sở pháp lý và tổ chức bộ máy quản lý

Hà Nam áp dụng hệ thống pháp luật về di sản văn hóa bao gồm Luật Di sản văn hóa 2001, Nghị định 92/2002/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tuy nhiên, việc triển khai còn chậm do thiếu sự cụ thể hóa trong các văn bản địa phương. Bộ máy quản lý gồm Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, Phòng Văn hóa các huyện cùng các ban quản lý di tích. Nguồn nhân lực hạn chế, đặc biệt là ở cấp huyện, khiến công tác quản lý thiếu chuyên nghiệp. Ngoài ra, sự phối hợp giữa các ngành còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng chồng chéo trong quản lý, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo tồn di tích.

2.2. Tình trạng bảo tồn và phát huy giá trị di tích

Hầu hết các di tích cấp quốc gia tại Hà Nam được quản lý tương đối tốt nhờ nguồn lực đầu tư từ trung ương, nhưng di tích cấp tỉnh lại gặp nhiều khó khăn do thiếu kinh phí. Nhiều di tích xuống cấp nghiêm trọng do thời gian, thiên tai hoặc sự xâm hại của con người. Công tác tuyên truyền về bảo vệ di tích chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến tình trạng người dân vô tình gây hại cho di tích. Ngoài ra, việc phát huy giá trị di tích thông qua hoạt động du lịch văn hóa còn hạn chế do hạ tầng yếu kém và thiếu chiến lược quảng bá. Các di tích chưa thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn, bỏ lỡ cơ hội đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa

Để nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa tại Hà Nam, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về tuyên truyền, cơ chế chính sách, nguồn nhân lực và tài chính. Trước hết, tỉnh cần xây dựng kế hoạch quản lý tổng thể cho từng di tích, ưu tiên đầu tư tu bổ các di tích cấp tỉnh xuống cấp. Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng thông qua các chương trình giáo dục di sản trong trường học và tổ chức lễ hội văn hóa. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ chế chính sách thu hút đầu tư tư nhân vào bảo tồn di tích, đồng thời nâng cao năng lực quản lý thông qua đào tạo chuyên môn cho cán bộ. Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý di tích cũng cần được thúc đẩy thông qua mô hình quản lý cộng đồng, tạo sự gắn kết giữa di tích và đời sống văn hóa địa phương.

3.1. Giải pháp về tuyên truyền và nâng cao nhận thức

Công tác tuyên truyền cần được đẩy mạnh thông qua nhiều hình thức như tổ chức hội thảo, triển lãm, phát hành ấn phẩm giới thiệu di tích. Trường học nên đưa giáo dục di sản vào chương trình giảng dạy, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ giá trị của di tích. Truyền thông đại chúng cần tăng cường đưa tin về tầm quan trọng của bảo tồn di sản, đồng thời phê phán những hành vi xâm hại di tích. Các lễ hội văn hóa gắn liền với di tích nên được tổ chức bài bản, thu hút đông đảo người tham gia. Ngoài ra, tỉnh cần xây dựng các tour du lịch di sản hấp dẫn, kết hợp giữa tham quan di tích và trải nghiệm văn hóa địa phương, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ di tích của cộng đồng.

3.2. Giải pháp về cơ chế chính sách và tài chính

Tỉnh cần xây dựng chính sách ưu đãi thu hút đầu tư tư nhân vào bảo tồn di tích, như miễn giảm thuế cho doanh nghiệp tham gia tu bổ di tích. Nguồn ngân sách tỉnh nên ưu tiên phân bổ cho các di tích cấp tỉnh xuống cấp, đồng thời huy động nguồn lực xã hội thông qua xã hội hóa. Việc thành lập quỹ bảo tồn di sản tại địa phương cũng là giải pháp hữu hiệu, giúp huy động vốn từ cộng đồng doanh nghiệp và cá nhân. Bên cạnh đó, tỉnh cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn di sản, học tập kinh nghiệm từ các quốc gia tiên tiến. Cơ chế phối hợp giữa các sở, ngành cũng cần được hoàn thiện để tránh chồng chéo trong quản lý.

IV. Kết luận và khuyến nghị quản lý di tích Hà Nam

Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa tại Hà Nam, chỉ ra những tồn tại và đề xuất giải pháp cải thiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy, công tác quản lý còn nhiều hạn chế do thiếu nguồn lực, nhận thức chưa cao và cơ chế chính sách chưa hoàn thiện. Để nâng cao hiệu quả quản lý, tỉnh cần ưu tiên đầu tư tu bổ di tích, tăng cường tuyên truyền và huy động cộng đồng tham gia. Việc xây dựng kế hoạch quản lý tổng thể và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các ngành cũng rất quan trọng. Ngoài ra, tỉnh nên đẩy mạnh hợp tác quốc tế và xã hội hóa trong bảo tồn di tích. Những giải pháp này không chỉ bảo vệ di sản mà còn góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống văn hóa của người dân.

4.1. Đánh giá chung về công tác quản lý

Công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại Hà Nam đã đạt được một số kết quả nhất định nhờ sự quan tâm của tỉnh và sự hỗ trợ từ trung ương. Tuy nhiên, hệ thống quản lý còn thiếu đồng bộ, nguồn nhân lực hạn chế và cơ sở hạ tầng yếu kém ảnh hưởng đến hiệu quả bảo tồn. Nhiều di tích cấp tỉnh chưa được xếp hạng, dẫn đến tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ di tích còn hạn chế do thiếu nhận thức và cơ chế khuyến khích. Đánh giá này cho thấy cần có sự thay đổi căn bản trong phương thức quản lý để bảo vệ di sản hiệu quả hơn.

4.2. Định hướng phát triển bền vững

Hà Nam cần xây dựng chiến lược phát triển bền vững cho di tích lịch sử văn hóa, trong đó ưu tiên bảo tồn nguyên trạng các di tích gốc và phát huy giá trị văn hóa. Tỉnh nên đẩy mạnh xã hội hóa trong bảo tồn di tích, thu hút đầu tư từ doanh nghiệp và cộng đồng. Việc phát triển du lịch văn hóa gắn liền với di tích cần được đầu tư hạ tầng và quảng bá mạnh mẽ. Ngoài ra, tỉnh cần tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý di tích cũng cần được thúc đẩy thông qua các mô hình quản lý cộng đồng, tạo sự gắn kết giữa di tích và đời sống văn hóa địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý di tích lịch sử văn hóa tỉnh hà nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu cho truyền thống khoa cử của Hà Nam là Lý Công Bình ở Đồn Xá - Bình Lục đỗ Thái học sinh thời Lý. Người đỗ cao nhất là Nguyễn Quốc Hiệu (Phú Thứ - Duy Tiên) đạt học vị Thám Hoa. Người đỗ khoa bảng trẻ nhất là Phan Tế (Duy Tiên) đỗ học vị Tiến sĩ khi mới 19 tuổi. Người đỗ ở tuổi cao nhất là Trương Minh Lượng (Ngô Xá - Duy Tiên) đỗ Tiến sĩ năm 65 tuổi.

Người đỗ đầu 3 kỳ thi là Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn 23 Khuyến (Bình Lục)…Hà Nam cũng có nhiều dòng họ khoa bảng như: dòng họ Bùi, dòng họ Vũ ở Lạc Tràng, thành phố Phủ Lý, dòng họ Nguyễn ở Vị Hạ, Bình Lục, dòng họ Vũ ở Vĩnh Trụ, Lý Nhân…Nhiều nhà khoa bảng của Hà Nam đã có những đóng góp lớn cho sự nghiệp xây dựng đất nước như: Lý Trần Thản (Duy Tiên) làm trấn thủ Hưng Hoá đời vua Lê Hiển Tông; Trương Công Giai (Thanh Liêm) làm Binh bộ Thượng Thư đời Lê Duy Tông. Có nhiều người trở thành học giả, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như: Dương Bang Bản (Thanh Liêm) được vua ban quốc tính, đổi là Lê Tung là nhà sử học tiêu biểu của thế kỷ XV, Nguyễn Khuyến - nhà thơ cổ điển với những bài thơ tuyệt tác về mùa thu…Thời kỳ cách mạng, Hà Nam cũng có nhiều văn sỹ nổi tiếng, tiêu biểu như nhà văn - liệt sỹ Nam Cao, nhạc sĩ Phong Nhã, Huy Thục… Hà Nam là một tỉnh có nhiều di tích lịch sử văn hoá, gồm nhiều loại hình, phân bố rộng khắp trên toàn địa bàn. Nhiều di tích có kiến trúc quy mô, nghệ thuật chạm khắc độc đáo: Chùa Long Đọi Sơn - nơi phát tích Vua Lê Đại Hành cày tịch điền, đền Trần Thương- dấu tích kho lương thời Trần, đình Văn Xá, đình An Hoà, đình Chảy, đình Vị Hạ, đình Ngò…tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật của nửa cuối thế kỷ XVII và nhiều di tích gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của danh nhân, nhân vật huyền thoại: Từ đường Nguyễn Khuyến, Từ đường Quận công Trần Như Lân, đền Trúc, căn cứ xưa của Lý Thường Kiệt, đền Bà Vũ, người phụ nữ trinh liệt…Hà Nam cũng có nhiều di tích cách mạng tiêu biểu: Đình Triều Hội - điểm khởi đầu của tiếng trống Bồ Đề năm 1930, đình Lũng Xuyên, đình Cổ Viễn… Bên cạnh những giá trị văn hoá vật thể, Hà Nam còn là quê hương của những làng nghề thủ công truyền thống, hiện có trên 30 làng nghề đang tồn tại và phát triển mạnh như: nghề dệt, nghề thêu, trồng dâu nuôi tằm, nghề làm trống, nghề thủ công mỹ nghệ, nghề chế biến nông sản, thực phẩm, nghề nuôi cá giống, nghề sản xuất vật liệu xây dựng, nghề mộc cổ truyền…Trong đó có 24 nhiều làng nghề nổi tiếng như: Lụa Nha Xá, mây giang đan - Ngọc Động, sừng mỹ nghệ Đô Hai, thêu, ren An Hoà, Hoà Ngãi, giũa cưa Đại Phu- An Đổ, mộc Cao Đà, gốm Đanh Xá, trống Đọi Tam…Hà Nam cũng là quê hương của nhiều lễ hội truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc, toàn tỉnh có hơn 100 lễ hội, trong đó có 5 lễ hội vùng được tổ chức quy mô theo đúng quy trình và nghi thức của lễ hội truyền thống, các nghi thức tế lễ, rước, trò chơi dân gian, sinh hoạt nghệ thuật dân gian được tổ chức long trọng, sinh động, tăng cường tính cộng đồng, cộng cảm của làng xã như: lễ hội đền Trần Thương- Lý Nhân, lễ hội chùa Đọi, lễ hội đền Lảnh Giang (Duy Tiên), lễ hội đền Trúc- Ngũ Động Sơn (Kim Bảng), lễ hội vật võ Liễu Đôi, lễ hội đình Vũ Cố (Thanh Liêm), lễ hội đình Công Đồng (Bình Lục)… Hà Nam là một trong những cái nôi của nền nghệ thuật truyền thống đang được kế thừa và phát huy như các chiếu chèo sân đình tiêu biểu: Chiếu chèo làng Ngò, chiếu chèo làng Thọ Chương, chiếu chèo làng Trương, chiếu chèo Xuân Khê (Lý Nhân), chiếu chèo Đồng Hoá (Kim Bảng), chiếu chèo Châu Giang (Duy Tiên), hát tuồng Bạch Thượng (Duy Tiên), An Thái (Bình Lục). Bên cạnh đó Hà Nam còn có vốn dân ca mang đậm những nét riêng như: Hát dậm Quyển Sơn - Kim Bảng, múa hát Lải Lèn - Lý Nhân, Dân ca giao duyên vùng ngã ba sông Móng ….

Hà Nam còn là quê hương của nhiều vùng văn hoá dân gian đặc sắc, còn lưu giữ một kho tàng truyện cổ, thơ ca, hò, vè, binh thư, binh pháp…tiêu biểu như ở vùng văn hoá Liễu Đôi, huyện Thanh Liêm. Trong tương lai Hà Nam sẽ là tỉnh công nghiệp, là điểm giao lưu giữa các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng và cả nước, trên địa bàn sẽ xuất hiện nhiều khu công nghiệp lớn, nhiều khu trung tâm thương mại, dịch vụ, nhiều trung tâm đào tạo nguồn lao động, khu đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao cho khu vực và cả nước. 25 Với định hướng và tốc độ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và của cả khu vực đồng bằng sông Hồng sẽ đặt ra cho văn hoá của tỉnh Hà Nam những thời cơ và thách thức mới để văn hoá luôn đáp ứng kịp thời với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, giữ vai trò vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn tỉnh Hà Nam 1.

Thống kê, phân loại di tích lịch sử - văn hóa 1. Thống kê, phân loại di tích lịch sử - văn hóa theo loại hình di tích Toàn tỉnh hiện còn 1698 di tích các loại, trong đó có 128 di tích, cụm di tích được xếp hạng (68 di tích cấp Quốc gia, 60 di tích cấp tỉnh). Tạm phân loại như sau: - Di tích lịch sử: 789 di tích - Di tích kiến trúc nghệ thuật: 902 di tích - Thắng cảnh: 7 BIỂU ĐỒ SỐ LƯỢNG DI TÍCH PHÂN THEO LOẠI Kiến trúc nghệ thuật 48,99% Lịch sử 51% Thắng cảnh 0,001% (Nguồn: Bảo tàng Hà Nam, năm 2008) 26 1. Thống kê, phân loại di tích lịch sử - văn hóa theo địa phương (xem phần phụ lục trang 135) * Huyện Lý Nhân Tổng số 438 di tích, trong đó có: 108 đình, 92 chùa, 92 đền, 38 phủ, 58 miếu, 2 văn chỉ, 43 từ đường, 1 mộ cổ, 1 đàn, 2 lăng, 1 quán.

* Huyện Bình Lục Tổng số 412 di tích: Trong đó có 133 đình, 114 chùa, 61 đền, 58 phủ, 20 miếu, 18 điếm, 7 nhà thờ dòng họ, 1 điện. * Huyện Kim Bảng Tổng số 196 di tích: 56 chùa, 49 đình, 36 đền, 24 miếu, 20 từ đường, 8 phủ, 2 điện, 1 văn chỉ. * Huyện Thanh Liêm Tổng số 298 di tích: 91 đình, 93 chùa, 58 đền, 35 phủ, 19 miếu, 1 lăng, 1 từ đường. * Huyện Duy Tiên Tổng số 275 di tích: 92 đình, 92 chùa, 36 đền, 8 phủ,17 miếu, 7 từ đường (nhà thờ dòng họ), 15 điện mẫu, 3 quán, 2 lăng mộ, 2 dinh, 1 văn chỉ.

* Thành phố Phủ Lý Tổng số 79 di tích : 24 đình, 27 chùa, 14 phủ, 12 đền, 1 quán và 1 văn chỉ. 27 BIỂU ĐỒ THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG DI TÍCH TỈNH HÀ NAM PHÂN BỐ THEO CÁC HUYỆN, THÀNH PHỐ (Theo kết quả kiểm kê, thống kê di tích 3 năm: 2002 – 2004, chưa kể số lượng di tích đã được nhà nước xếp hạng ) Sè l−îng 500 450 438 412 400 350 Lý Nh©n 298 B×nh Lôc 300 275 Thanh Liªm Duy Tiªn 250 Kim B¶ng 196 Phñ Lý 200 150 100 79 50 0 Lý Nh©n B×nh Lôc Thanh Duy Tiªn Kim B¶ng Phñ Lý HuyÖn, Thµnh phè Liªm Nguồn: Bảo tàng Hà Nam, năm 2008 1. Thống kê, phân loại di tích lịch sử - văn hóa theo mức độ đưa vào diện quản lý (xem phần phụ lục trang 143) 28 1. 10 di tích tiêu biểu cho các loại hình, cấp độ quản lý di tích ở Hà Nam: Trong diễn trình lịch sử dựng nước của dân tộc, các thế hệ nhân dân Hà Nam đã sáng tạo nên kho tàng di sản văn hoá vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng.

Trong đó các di tích lịch sử- văn hoá, danh lam thắng cảnh luôn giữ vai trò quan trọng. Di tích hội tụ nhiều giá trị về lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, văn hoá dân gian…, có vai trò to lớn trong việc giáo dục truyền thống yêu nước và nhân văn, nhất là đối với thế hệ trẻ, là bằng chứng vật chất đáng tin cậy trong việc nghiên cứu, tìm hiểu về mảnh đất, con người Hà Nam, đồng thời là nguồn tài nguyên du lịch dồi dào, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnh và từng địa phương. Trong những năm qua, các địa phương của tỉnh Hà Nam luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối các di tích, đã có nhiều chính sách, biện pháp để bảo tồn và phát huy giá trị của di tích. Để đánh giá đúng mức về thực trạng công tác quản lý di tích của tỉnh Hà Nam, đồng thời có cái nhìn tổng quát về các giá trị của di tích, luận văn chọn 10 di tích tiêu biểu cho các loại hình di tích để giới thiệu, bởi các lý do sau: Thứ nhất: đây là 10 di tích tiêu biểu, nổi tiếng của tỉnh Hà Nam đã được Nhà nước xếp hạng cấp Quốc gia.

Thứ hai: Trong quá trình tồn tại đến nay, các di tích này được bảo tồn tối đa các yếu tố gốc, phát huy tốt các giá trị vốn có, trở thành trung tâm hành chính, tôn giáo, tín ngưõng, văn hoá của các làng xã và vùng phụ cận. Thứ ba: Công tác quản lý, bảo vệ các di tích này được làm khá tốt, không để xảy ra tình trạng tu bổ trái phép, tranh chấp đất đai, mất cắp đồ thờ hiện vật… Tuy nhiên, cũng chính ở các di tích này còn bộc lộ những 29 bất cập trong việc thực hiện Luật Di sản và các quy định hiện hành về công tác quản lý di tích lịch sử văn hoá. Thứ tư: Các di tích này đang trong quá trình đưa vào diện hoạch tổng thể để có kế hoạch bảo tồn, tôn tạo, phát huy tốt hơn nữa các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể, góp phần vào việc giáo dục truyền thống cho các thế hệ, đồng thời là điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài tỉnh trong tương lai. * Di tích đình Triều Hội (Thôn Triều Hội, xã Bồ Đề, huyện Bình Lục) - di tích lịch sử Đình Triều Hội là nơi thờ hai vị thành hoàng làng là Câu Mang tôn thần (tướng tài nhà Trần) và Trần Xuân Vinh (đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ, được bổ làm quan dưới triều vua Lê Thánh Tông) [58, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ