Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Một số vấn đề cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm thuế Dưới bất kỳ xã hội nào, khi có Nhà nước là phải có thuế, tùy cách tiếp cận khác nhau sẽ có khái niệm thuế khác nhau, theo Hải Anh (2007).
- Xét về góc độ Nhà nước, thuế là một khoản thu của Nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội. Khoản thu này mang tính bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định. - Xét về góc độ người nộp thuế, thuế là khoản đóng góp mang tính pháp luật của Nhà nước, bắt buộc mọi người dân hoặc các tổ chức kinh tế đóng góp một phần thu nhập vào NSNN, để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. - Thuế là khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được Pháp luật quy định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Thuế là hình thức huy động tài chính cho Nhà nước. Khi Nhà nước ra đời, thuế là công cụ để Nhà nước có nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nước. Nhà nước dùng quyền lực của mình ban hành các Luật thuế để bắt buộc người dân và các đối tượng khác trong xã hội đóng góp cho Ngân sách nhà nước (NSNN). Do vậy, thuế là hình thức đóng góp theo nghĩa vụ do Luật quy định cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội nộp cho NSNN bằng một phần thu nhập của mình nhằm tập trung một bộ phận quyền lực, của cải xã hội vào NSNN để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước thích ứng với từng giai đoạn phát triển của đời sống kinh tế xã hội.
Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Hiện nay, chưa có một khái niệm cụ thể về thuế thu nhập doanh nghiệp (Thuế TNDN). Tuy nhiên, dựa theo các quy định như Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành thì chúng ta có thể hiểu thuế 5 TNDN như sau: Thuế TNDN là loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác theo quy định của pháp luật. Để hiểu rõ về thuế TNDN trước hết cần tìm hiểu về thu nhập doanh nghiệp: thu nhập của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp thu được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định thường là một năm. Tuy nhiên, trong thực tế không phải toàn bộ thu nhập của doanh nghiệp đều là đối tượng điều chỉnh của thuế TNDN.
Thuế TNDN chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế. Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập làm cơ sở đánh thuế thu nhập, nó được xác định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi đã trừ một số khoản chi phí để tạo ra thu nhập đó. Tuỳ theo chính sách thuế thu nhập của mỗi nước mà nội dung, phương pháp xác định các khoản miễn trừ và thu nhập chịu thuế có sự khác nhau. Theo Tổng Cục Thuế (2011) định nghĩa: “Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế đánh vào thu nhập phát sinh của cơ sở sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định thường là một kỳ kinh doanh”.
Hay theo Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Văn Hiệu (2014), “Thuế thu nhập doanh nghiệp là sắc thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế”. Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp Theo Ma Tường Bằng Giang (2015, thuế TNDN có các đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, thuế TNDN là thuế trực thu, đối tượng nộp thuế TNDN là các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đồng thời cũng là người chịu thuế. Thứ hai, thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư. Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt là một số tiền cộng thêm vào giá bán của hàng hoá, dịch vụ, người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ là người tập hợp thuế và nộp vào kho bạc, bởi vậy, nó chủ yếu phụ thuộc vào mức độ tiêu dùng hàng hoá.
Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN. Thứ ba, thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhấn. Thu nhập mà các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư như: lợi tức cổ phần, lãi tiền gửi ngân 6 hàng, lợi nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết… là phần thu nhập được chia sau khi nộp thuế TNDN. Do vậy, thuế TNDN cũng có thể coi một biện pháp quản lý thuế thu nhập cá nhân.
Thứ tư, tuy là thuế trực thu song thuế TNDN không gây phản ứng mạnh mẽ bằng thuế thu nhập cá nhân vì nó khá mơ hồ đối với người chịu thuế. Sự mơ hồ thể hiện ở chỗ người thực sự chịu gánh nặng thuế chưa chắc đã biết hoặc quan tâm đến thuế TNDN. Người thực sự chịu gánh nặng thuế TNDN là những chủ sở hữu doanh nghiệp, nhưng trong nhiều trường hợp những người sở hữu doanh nghiệp không trực tiếp tham gia điều hành doanh nghiệp, họ không biết rằng, nếu không phải nộp thuế TNDN thì phần lợi nhuận được chia của họ có thể nhiều hơn. Vai trò cơ bản của thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước mà còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội.
Từ đó, vai trò của thuế TNDN cũng thuộc vai trò chung của thuế, cụ thể, theo Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Thị Liên (2014). Thứ nhất, thuế TNDN là khoản thu quan trọng của NSNN. Điều này thể hiện ở phạm vi áp dụng thuế TNDN rất rộng rãi, bao gồm mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có thu nhập. Mặt khác, cũng với xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của các hoạt động kinh tế ngày càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao sẽ tạo ra nguồn thu về thuế TNDN ngày càng lớn cho NSNN.
Thứ hai, thuế TNDN là một công cụ để nhà nước thực hiện chính sách công bằng xã hội. Thuế TNDN được tính trên số thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi tất cả những khoản chi phí hợp lý theo quy định với thuế suất ổn định cho nên những doanh nghiệp có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều. Ngược lại những doanh nghiệp có thu nhập thấp thì nộp thuế ít, doanh nghiệp không có thu nhập thì không phải nộp thuế đã tạo ra sự công bằng trong khả năng đóng góp cho NSNN giữa các doanh nghiệp. Tạo ra công bằng theo chiều dọc.
Thứ ba, thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Thông qua các thuế suất ưu đãi, chế 7 độ miễn giảm thuế. thuế TNDN đã góp phần khuyến khích đầu tư, sản xuất kinh doanh phát triển theo định hướng của Nhà nước nhằm đảm bảo một cơ cấu kinh tế hợp lý. Thuế TNDN tác động đến cơ cấu đầu tư, tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp, tác động đến quá trình dịch chuyển vốn thu hút đầu tư trong và ngoài nước với mức thuế suất ưu đãi.
Thứ tư, thuế TNDN điều chỉnh tích luỹ tư bản, đây là nội dung quan trọng của điều chỉnh thuế. Một mặt, sản xuất chiếm hữu và tư bản hoá lợi nhuận luôn luôn là mục đích cơ bản của hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước cần sử dụng thuế để điều chỉnh sự tích luỹ đó phù hợp với lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế và lợi ích xã hội. Mặt khác, sự phát triển nền kinh tế luôn đòi hỏi phải tăng nhanh vốn đầu tư cơ bản, để phát triển nền kinh tế quốc dân, Nhà nước cần phải khuyến khích tích luỹ và tích tụ trong các doanh nghiệp, để tạo ra nguồn vốn đầu tư. Việc thay đổi các chính sách thuế TNDN của Nhà nước có thể ảnh hưởng đến quy mô và tốc độ tích luỹ tư bản, do đó tác động đến quá trình đầu tư phát triển kinh tế.
Thứ năm, thuế TNDN điều chỉnh chu kỳ nền kinh tế, là một trong những nội dung quan trọng của quá trình sử dụng công cụ thuế điều chỉnh vi mô nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường sự phát triển theo chu kỳ không thể nào tránh được. Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổn định, Nhà nước đã sử dụng thuế để điều chỉnh. Trong những năm khủng hoảng và suy thoái kinh tế, Nhà nước có thể hạ thấp mức thuế, tạo ra những điều kiện ưu đãi về thuế thuận lợi nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng để tăng đầu tư và mở rộng sức sản xuất.
Điều đó có thể đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng nhanh chóng. Ngược lại, trong thời kỳ phát triển quá mức, có nguy cơ dẫn đến mất cân đối, bằng cách tăng thuế, thu hẹp đầu tư, Nhà nước có thể giữ vững nhịp độ tăng trưởng theo mục tiêu đặt ra. Thứ sáu, thuế TNDN còn góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý theo yêu cầu của từng giai đoạn phát triển nền kinh tế bằng việc ban hành chính sách thuế TNDN, Nhà nước sẽ quy định đánh thuế hay không đánh thuế các ngành nghề cụ thể. Thông qua đó Nhà nước có thể thúc đẩy sự phát triển của những ngành kinh tế quan trọng hoặc san bằng tốc độ tăng trưởng giữa chúng, đảm bảo sự cân đối giữa các ngành nghề trong nền kinh tế.