Chương 1: Cơ sở lý luận về ngân sách Nhà nước và quản lý thu, chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện. - Chương 2: Thực trạng quản lý thu, chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Chợ Gạo. - Chương 3: Giải pháp thực hiện tốt công tác quản lý thu, chi ngân sách. 8 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VÀ QUẢN LÝ THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1.1 Tổng quan về ngân sách Nhà nƣớc và thu, chi ngân sách Nhà nƣớc 1.1 Khái niệm về ngân sách Nhà nƣớc Từ ngân sách được lấy ra từ thuật ngữ “budget” một từ tiếng Anh thời trung cổ, d ng để mô tả chiếc túi của nhà vua, trong đó có chứa những khoản tiền cần thiết cho những khoản chi tiêu công cộng.
Dưới chế độ phong kiến, chi tiêu của nhà vua cho mục đích công cộng như: đắp đê phòng chống lũ lụt, xây dựng đường xá và chi tiêu cho bản thân hoàng gia không có sự tách biệt nhau. Khi giai cấp tư sản lớn mạnh từng bước khống chế nghị viện và đòi hỏi tách bạch hai khoản chi tiêu này, từ đó nảy phát sinh khái niệm NSNN. Trong thực tiễn, khái niệm ngân sách thường để chỉ tổng số thu và chi của một đơn vị trong một khoản thời gian nhất định. Một bảng tính toán các chi phí để thực hiện một kế hoạch hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định của một chủ thể nào đó.
Nếu chủ thể đó là Nhà nước thì được gọi là ngân sách Nhà nước. Từ điển Bách Khoa Toàn Thư về kinh tế của Pháp định nghĩa:“Ngân sách là văn kiện được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó, các nghiệp vụ tài chính (thu, chi) của một tổ chức công (Nhà nước, chính quyền, địa phương) hoặc tư (doanh nghiệp, hiệp hội,.) được dự kiến và cho phép”. Từ điển kinh tế thị trường của Trung Quốc cho rằng:“NSNN là kế hoạch thu chi tài chính hàng năm của Nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định”. Theo Điều 1 của Luật NSNN được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2, năm 2002 cũng khẳng định “NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, 9 nhiệm vụ của Nhà nước”.
Đến năm 2015 thì ngân sách được bổ sung thêm từ “dự toán” và được khái niệm như sau: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Theo Điều 4 của Luật NSNN số 83/2015/QH13 được Quốc hội khóa XIII nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 9, năm 2015).2 Vai trò ngân sách Nhà nƣớc NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất trong nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân và có mối quan hệ khăng khít với tất cả các khâu của cả hệ thống tài chính. NSNN không thể tách rời với vai trò của Nhà nước. Nhà nước quản lý và sử dụng ngân sách để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò NSNN là đảm bảo nguồn tài chính để thực hiện các chức năng Nhà nước công quyền, duy trì sự tồn tại của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương.
NSNN là công cụ quan trọng để thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, tạo đà tăng trưởng và ổn định nền kinh tế vĩ mô của đất nước, b đắp những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường, thực hiện tiến trình công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. Ngày nay, cùng với tiến trình toàn cầu, khoa học công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế xã hội, đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước, trong đó NSNN được xem là một công cụ chủ yếu. Vậy vai trò của NSNN được thể hiện như sau: - Thứ nhất, vai trò NSNN trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, thể hiện ở các mặt chủ yếu sau đây: + Xác định một cách có khoa học, đặt ra một tỷ lệ huy động tổng sản phẩm xã hội vào ngân sách Nhà nước, lấy đó làm căn cứ điều chỉnh quan hệ Nhà nước với doanh nghiệp và dân cư trong phân phối tổng sản phẩm xã hội. + Xác định quan hệ thuế trong tổng sản phẩm, đảm bảo Nhà nước có nguồn thu thường xuyên, ổn định, thực hiện điều tiết hợp lý lợi ích nền kinh tế quốc dân.
10 + Xác định các hình thức huy động ngoài thuế trên thị trường tài chính, dưới các hình thức công trái quốc gia, trái phiếu kho bạc, tín phiếu kho bạc, nhằm trang trải bội chi NSNN. + Xác định vai trò quyền sở hữu tài sản công và tài nguyên quốc gia để giải quyết nguồn huy động. - Thứ hai, vai trò NSNN trong ổn định và tăng trưởng kinh tế được thể hiện trên các mặt: kích thích, tạo hành lang, môi trường và gây sức ép. Nhà nước thực hiện chính sách thuế để vừa kích thích, vừa gây sức ép.
Thuế là một công cụ chủ yếu của Nhà nước trong việc quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tạo điều kiện thuận lợi trên các mặt tài chính, để khuyến khích các thành phần kinh tế có doanh lợi trong đầu tư phát triển. Kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định tiền tệ, giá cả, thị trường, góp phần ổn định và phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. NSNN đóng vai trò quan trọng trong quan hệ cung cầu tiền tệ để ổn định và điều tiết vĩ mô nền kinh tế; qua thu chi ngân sách tác động quan hệ cung cầu về tiền tệ.
- Thứ ba, vai trò của NSNN trong ổn định chính trị, bảo vệ thành quả cách mạng. Vai trò của NSNN trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, trong ổn định và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho ổn định chính trị thông qua NSNN bảo đảm các nhu cầu và điều kiện để không ngừng hoàn thiện bộ máy Nhà nước, phát huy vai trò của bộ máy Nhà nước trong việc quản lý mọi lĩnh vực của đất nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng, bảo vệ và phát triển những thành tựu đã đạt được của sự nghiệp cách mạng. - Thứ tư, vai trò kiểm tra của NSNN: Thông qua NSNN, kiểm tra quá trình phát triển kinh tế quốc dân, cũng như các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhằm thúc đẩy, phát hiện, khai thác tiềm năng kinh tế, kiểm tra bảo vệ tài sản quốc gia, tài sản Nhà nước, chống thất thoát, lãng phí, kiểm tra việc chấp hành luật pháp về NSNN, kỷ luật tài chính, bảo đảm trật tự kỷ cương trong hoạt động tài chính. Hiện nay, trong nền kinh tế năng động, thời kỳ kinh tế Việt Nam hội nhập với các nền kinh tế trên toàn cầu, việc sử dụng NSNN để tác động vào nền kinh tế là hết sức quan trọng.
Tuy nhiên, luật ngân sách ngày càng phải được sửa đổi, bổ sung 11 cho hoàn thiện để đáp ứng đúng yêu cầu là vai trò thúc đẩy sự phát triển và ổn định cho một nền kinh tế năng động của nước ta hiện nay.3 Khái niệm về thu ngân sách Nhà nƣớc Thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước (Phạm Thế Tụng, 2018). Thu NSNN mang tính bắt buộc, cưỡng chế, mang tính thống nhất thực hiện trên toàn quốc, trừ một số khoản thu phí giao cho địa phương quyết định như phí, lệ phí, huy động nhân dân đóng góp. Do đó, thẩm quyền ban hành các khoản thu, mức thu, đối tượng thu được quy định cụ thể trong Luật NSNN và chỉ có cơ quan có thẩm quyền mới được ban hành hoặc sửa đổi các khoản thu vào NSNN, đảm bảo đúng theo quy định hiện hành. Thu NSNN (Khoản 1 Điều 5 , Luật NSNN, 2015) gồm: - Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí.
- Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan Nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp Nhà nước thực hiện nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật. - Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương. - Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.4 Khái niệm về chi ngân sách Nhà nƣớc - Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN và đưa chúng đến mục đích sử dụng (Phạm Thế Tụng, 2018) có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mở mang các sự nghiệp văn hóa – xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước và đảm bảo an ninh quốc phòng. - Chi NSNN bao gồm các khoản chi đầu tư phát triển, chi dự trữ quốc gia, chi thường xuyên, chi trả nợ của Nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.5 Nguyên tắc thu, chi ngân sách Nhà nƣớc * Nguyên tắc thống nhất Theo nguyên tắc này, mọi khoản thu, chi của một cấp hành chính đưa vào một kế hoạch ngân sách thống nhất.
Thống nhất quản lý hành chính là việc tuân thủ một khuôn khổ chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, thanh quyết toán, xử lý các vấn đề vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Thực hiện nguyên tắc này sẽ đảm bảo tính bình đẳng, công bằng, đảm bảo có hiệu quả, hạn chế những tiêu cực và những rủi ro, nhất là những rủi ro có tính chất chủ quan khi quyết định các khoản chi tiêu. * Nguyên tắc dân chủ Một ngân sách tốt là một ngân sách phản ánh lợi ích của các tầng lớp, các bộ phận, các cộng đồng người trong các chính sách, hoạt động thu, chi ngân sách.