Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội. Chương 2: Thực trạng quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị tăng cường công tác quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội. e 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.
Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội, quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội 1. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội Hiểu theo nghĩa rộng thì “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động và gia đình họ khi người lao động tham gia BHXH bị giảm hoặc mất thu nhập từ lao động do các sự kiện bảo hiểm xảy ra và trợ giúp các dịch vụ việc làm, chăm sóc y tế cho họ trên cơ sở quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp, nhằm ổn định đời sống cho người lao động và gia đình người lao động, đảm bảo an sinh xã hội” [25, tr. Hiểu theo nghĩa hẹp thì “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động và gia đình họ từ quỹ bảo hiểm xã hội do các bên tham gia đóng góp, khi người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bị giảm hoặc mất thu nhập từ lao động do các sự kiện bảo hiểm xảy ra, nhằm đảm bảo ổn định đời sống gia đình người lao động và đảm bảo an sinh xã hội” [25, tr.
Theo ILO, “Bảo hiểm xã hội là hình thức bảo trợ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua nhiều biện pháp công nhằm khắc phục tình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm một phần thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, tuổi già và tử vong; chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình” [25, tr. Theo Luật BHXH năm 2014 thì “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc e 7 mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [23, tr. Do đó, nếu theo định nghĩa trong luật thì BHXH được hiểu theo nghĩa hẹp và không bao gồm bảo hiểm y tế. Bản chất của bảo hiểm xã hội Với cách hiểu về BHXH như trên, bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây: Một là, BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó.
Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước. Hai là, mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. Bên tham gia BHXH có thể chỉ là NLĐ hoặc cả NLĐ và NSDLĐ.
Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết. Đối tượng tham gia BHXH là NLĐ và NSDLĐ. Tuy vậy, tùy theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những NLĐ nào đó.
Hầu hết các nước khi mới có chính sách BHXH, đều thực hiện BHXH đối với các viên chức Nhà nước, những người làm công hưởng lương. Việt Nam cũng không vượt ra khỏi thực tế này, mặc dù biết rằng như vậy là không bình đẳng giữa tất cả những NLĐ. e 8 Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoài NLĐ còn có NSDLĐ và cơ quan BHXH, dưới sự bảo trợ của Nhà nước. NSDLĐ đóng góp vào quỹ BHXH là trách nhiệm của họ để bảo hiểm cho NLĐ mà họ sử dụng.
Còn cơ quan BHXH nhận sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ phải có trách nhiệm quản lý, sử dụng quỹ để thực hiện mọi công việc về BHXH đối với NLĐ. Mối quan hệ ràng buộc này chính là đặc trưng riêng có của BHXH. Nó quyết định sự tồn tại, hoạt động và phát triển của BHXH một cách ổn định và bền vững. Ba là, những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: Ốm đau, tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp… Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản… Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
Bốn là, phần thu nhập của NLĐ bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra cũng được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Bảo hiểm xã hội là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi do NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các nguyên nhân như ốm đau, tai nạn, già yếu… Chính vì vậy, đối tượng của BHXH chính là thu nhập của NLĐ bị biến động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những NLĐ tham gia BHXH. Năm là, mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của NLĐ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm.
Mục tiêu này đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau: (1) Đền bù cho NLĐ những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết e 9 yếu của họ; (2) Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật; (3) Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em. Với những mục tiêu trên, BHXH trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và ghi vào Tuyên ngôn Nhân quyền ngày 10/12/1948 rằng: Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá, nhu cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người. Vai trò của bảo hiểm xã hội Thứ nhất, đối với người tham gia bảo hiểm * Đối với người lao động: BHXH là chính sách xã hội được Nhà nước thực hiện đối với NLĐ. Đây là những người trực tiếp tạo ra của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội và là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu dân số quốc gia.
Nhờ có BHXH mà rủi ro, bất lợi của NLĐ được dàn trải, từ đó góp phần ổn định thu nhập, ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ khi NLĐ gặp phải các rủi ro, biến cố như ốm đau, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, sinh đẻ hay về già… BHXH giúp người lao động nâng cao khả năng tiết kiệm trong chi tiêu để có các khoản tiết kiệm nhỏ, đều đặn dùng khi bị giảm hoặc mất thu nhập nên ngoài việc có hỗ trợ về vật chất, BHXH còn giúp hỗ trợ về mặt tinh thần và ổn định tâm lý khi phải đối mặt với các rủi ro [25, tr. * Đối với người sử dụng lao động: Giúp cho người sử dụng lao động có thể ổn định hoạt động nhờ việc phân phối các chi phí cho người lao động hợp lý nên hoạt động kinh doanh sẽ được liên tục và không bị gián đoạn. Khi tham gia BHXH nó sẽ giúp gắn bó lợi ích giữa người lao động và ngườisử dụng lao động, giữa người lao động và xã hội bởi họ cùng đóng góp e 10 chung vào quỹ BHXH và khi người lao động có gặp phải rủi ro hay khi họ hưởng các chế độ thì BHXH sẽ thay người sử dụng lao động bù đắp lại phần thu nhập bị mất cho người lao động. Khi tham gia BHXH thì người lao động sẽ chia sẻ rủi ro với xã hội theo nguyên tắc số đông bù số ít, do đó sẽ giúp gắn bó lợi ích giữa người lao động và xã hội chặt chẽ hơn [25, tr.
Thứ hai, đối với xã hội BHXH là trụ cột trong hệ thống ASXH: Sự vững chắc của hệ thống ASXH ở một quốc gia được phản ánh qua chính sách BHXH của quốc gia đó. Vì BHXH có đối tượng NLĐ tham gia rất lớn, đây là những người trực tiếp tạo ra của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội. Khi rủi ro ốm đau, tai nạn, mất việc làm, già yếu xảy ra sẽ đe dọa đến cuộc sống của bản thân NLĐ và gia đình họ, làm ảnh hưởng xấu tới tâm lý của NLĐ, từ đó ảnh hưởng tới xã hội. Yếu tố tâm lý của con người luôn đóng vai trò là động lực thúc đẩy phát triển trí tuệ và khả năng khai thác nguồn chất xám trong mỗi con người.
Nếu như trong công việc, thu nhập là mục đích chính, là yếu tố kích thích hoạt động sản xuất thì yếu tố tâm lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của sản xuất. Xét trên phương diện kinh tế học và xã hội học thì nhu cầu xã hội làm cho con người luôn phải suy nghĩ, luôn phải lo lắng từ miếng ăn, giấc ngủ, hiện tại, tương lai… Điều này làm cản trở không ít đến khả năng phát huy nội lực của mỗi người. Như vậy, BHXH ra đời và phát triển sẽ tạo tâm lý yên tâm cho NLĐ. Khi về già, họ được hưởng tiền lương hưu; khi ốm đau, tai nạn, mất việc làm họ được hưởng trợ cấp, giúp ổn định thu nhập, ổn định đời sống, từ đó làm giảm bớt sự căng thẳng về mặt tâm lý, giúp NLĐ an tâm công tác, góp phần làm tăng giá trị thặng dư, tăng hiệu quả của sản xuất, tạo thêm nhiều sản phẩm hàng hoá cho xã hội.