Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nợ thuế. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý nợ thuế ở Chi cục thuế khu vực Phổ Yên - Phú Bình Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục thuế khu vực Phổ Yên - Phú Bình 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ 1. Cơ sở lý luận về quản lý nợ thuế Lý luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng thuế ra đời và tồn tại là khách quan, là điều kiện vật chất quan trọng để Nhà nước tồn tại và phát triển. Khi Nhà nước xuất hiện, để đảm bảo sự tồn tại đồng thời thực hiện các hoạt động của mình, Nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một bộ phận của cải trong xã hội vào tay Nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Việc huy động, tập trung nguồn của cải đó có thể được thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc được gọi là thuế. Khái niệm về thuế Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử. Thuế xuất hiện ban đầu có hình thức biểu hiện rất đơn giản, thu thuế được thực hiện từ hình thức thu bằng hiện vật dần chuyển sang thu dưới hình thức giá trị, nhất là khi tiền tệ ra đời. Để đưa ra khái niệm mới về thuế hoàn toàn không đơn giản.
Các nhà kinh tế học đã có quá trình nghiên cứu sâu sắc ở nhiều khía cạnh khác nhau nhằm tìm khái niệm thuế theo cách đánh giá của mình. Các Mác viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước”. Gaston Jeze trong cuốn: “Tài chính công” xuất bản năm 1998 từ Kessinger Publising, LLC cho rằng:“Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp cho công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi phí của Nhà nước”. Đây là khái niệm được ra đời khá sớm và cũng rất nổi tiếng về thuế, có tính khái quát cao, được coi là cơ sở của các khái niệm sau này.
Tuy nhiên, khái niệm này không phân định thuế được bù đắp vào công việc gì và trong nhiều trường hợp, thuế không chỉ để bù đắp chi tiêu mà còn dùng để phát triển kinh tế, xã hội. Tác giả Stiglitz, Joseph E. trong cuốn “Economics of Public Sector” từ Nhà xuất bản Third Edition, W. Norton & Company năm 2000 thì định nghĩa“Thuế 13 hay thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước.
Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội”. Trên góc độ Kinh tế học, theo tài liệu “Khái niệm và đặc điểm của thuế” của Thư viện Học liệu Mở Việt Nam (VOER):“Thuế là biện pháp đặc biệt theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của Nhà nước”. Trên khía cạnh nghiên cứu thuế với tư cách là một nội dung điều chỉnh của luật pháp, các chuyên gia về luật thuế cũng đã nhận định “Thuế là một trật tự đã được thiết lập hòa bình giữa chính phủ với cộng đồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa vụ thu, nộp vào ngân sách. Thuế không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào giữa các bang hay vùng lãnh thổ”.
Tại điều 4 - Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2006 có đề cập đến khái niệm về thuế như sau:“Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế.” Như vậy, mặc dù có nhiều cách định nghĩa về thuế nhưng chúng ta đều có thể nhận thấy nét chung sau: Thuế không chỉ là nguồn thu chính của quốc gia mà còn là công cụ quan trọng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước. Đây là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân trong xã hội phải nộp cho Nhà nước khi có đủ điều kiện nhất định.
Mối quan hệ gắn bó này giữa Nhà nước và NNT không thay đổi trong những xã hội có chế độ kinh tế, chính trị khác nhau. Bất kể xã hội nào cũng thể hiện quan hệ thu và nộp như nhau. Và nguồn thu tài chính từ mối quan hệ này sẽ giúp Nhà nước thực hiện thỏa mãn các nhu cầu phát triển về kinh tế và xã hội của quốc gia đó. Ngoài ra cũng có thể hiểu thuế là một khoản thu nhập được chuyển giao một cách bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước, do pháp luật quy định 14 nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.
Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao. Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của NNT và sẽ trở thành khoản nộp bắt buộc mà NNT có nghĩa vụ chuyển giao cho Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tiễn bởi nhiều lý do khác nhau mà NNT chưa nộp hoặc không nộp thuế cho Nhà nước trong thời hạn quy định, từ đó hình thành nên khoản nợ thuế. Khái niệm về nợ thuế Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao.
Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của NNT và sẽ trở thành khoản nộp bắt buộc mà NNT phải có nghĩa vụ chuyển giao cho Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tiễn vì những lý do nào đó, NNT chưa nộp hoặc không nộp thuế cho Nhà nước theo thời hạn quy định, hình thành một khoản nợ thuế. Nợ thuế là hiện tượng NNT không nộp đầy đủ và đúng hạn số thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật về thuế. Có thể hiểu nợ thuế ở khía cạnh đầy đủ hơn là tiền nợ thuế như sau: Tiền nợ thuế là khoản tiền được xác định là phải nộp vào NSNN đúng theo quy định của pháp luật nhưng hiện nay vẫn chưa được thực hiện và còn tồn đọng ở những ĐTNT có trách nhiệm nộp khoản thuế này cho các cơ quan Nhà nước.
Tại Quyết định số 1395/QĐ-TCT của Tổng Cục trưởng Tổng Cục thuế ngày 04/10/2011 về việc ban hành quy trình quản lý nợ thuế có định nghĩa tiền nợ thuế như sau: “Tiền nợ thuế là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế mà NNT đã kê khai, CQT đã tính; các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho CQT, CQT xác định đây là nghĩa vụ của NNT và đã thông báo cho NNT nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưa nộp vào NSNN.” Người nợ thuế: Là NNT có khoản tiền nợ thuế theo định nghĩa nêu trên. Khoản nợ: là số tiền nợ thuế được xác định theo từng lần phát sinh số ngày nợ thuế của một khoản nợ thuế: là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộp vào NSNN, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo Bộ Luật Lao động. 15 Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản nợ thuế: là ngày tiếp theo ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản nợ thuế: là ngày khoản nợ được nộp vào NSNN; hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn bản xóa nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng các hình thức khác.
Tiền phạt chậm nộp thuế là khoản tiền phạt được tính trên số tiền nợ thuế và số ngày nợ thuế của một khoản nợ. Tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh: là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, tiền chậm nộp và các khoản phải nộp khác NNT đã nộp nhưng có một số sai sót trên chứng từ nộp tiền hoặc chứng từ chậm luân chuyển hoặc thất lạc, chờ ghi thu - ghi chi; CQT đang điều chỉnh theo đúng quy định. Khái niệm về quản lý nợ thuế Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc quản lý hành chính nhà nước, được hiểu là hoạt động tác động và điều hành hoạt động đóng thuế của NNT. Quản lý thuế quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên và ổn định vào NSNN.
Quản lý nợ thuế là hoạt động theo dõi, nắm bắt tình hình nợ thuế của CQT nhằm thực hiện các biện pháp đôn đốc số thuế mà NNT đã kê khai, CQT đã tính, các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho CQT. CQT xác định đây là nghĩa vụ của NNT và đã thông báo cho NNT nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưa nộp vào NSNN. Đối với CQT, quản lý nợ thuế là một quá trình: Xây dựng chương trình, mục tiêu, chính sách, lập chỉ tiêu thu nợ hàng năm, chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ, giải pháp về quản lý nợ thuế, xây dựng các chính sách về quản lý nợ thuế, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nợ thuế, cơ sở vật chất kỹ thuật và một cơ cấu tổ chức thích hợp, duy trì một hệ thống thông tin để đảm bảo quản lý đầy đủ về đối tượng nợ thuế, thực hiện các thủ tục và quy trình quản lý để phân loại đôn đốc và phạt chậm nộp tiền thuế; xem xét, giải quyết văn bản đề nghị xóa nợ, gia hạn nợ thuế, đề xuất các biện pháp và giải pháp quản lý thu nợ trên địa bàn quản lý. Đối với công chức thuế, quản lý nợ thuế bao gồm: xác định đối tượng nợ 16 thuế, phân loại tiền nợ thuế theo tính chất nợ, xác định số tiền thuế còn nợ và thực hiện các bước đôn đốc thu tiền nợ thuế.