Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển với tiềm năng du lịch to lớn, thu hút khoảng 80% tổng lượng khách du lịch và chiếm gần 70% tổng số các điểm du lịch trên toàn quốc. Trong bức tranh chung đó, tỉnh Quảng Trị giữ vị trí chiến lược tại khu vực Bắc Trung Bộ với 75 km đường bờ biển trải dài qua 4 huyện ven biển gồm Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng cùng 12 xã, thị trấn giáp biển và huyện đảo Cồn Cỏ có diện tích 230 ha, cách đất liền 28 km. Đây cũng là điểm đầu hướng biển của tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây kết nối Việt Nam với Lào, Thái Lan và Myanmar.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa tiềm năng tài nguyên biển phong phú với thực trạng quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế, cơ chế chính sách chưa đồng bộ và hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể nhằm xây dựng hệ thống luận cứ khoa học và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch biển tại tỉnh Quảng Trị. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ dải ven biển và hải đảo tỉnh Quảng Trị; phạm vi thời gian đánh giá thực trạng thu thập số liệu từ năm 2014 đến năm 2018, định hướng giải pháp đến năm 2025 và tầm nhìn 2030.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi đóng góp trực tiếp vào mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phấn đấu đóng góp từ 7% đến 8% tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh Quảng Trị. Kết quả nghiên cứu tạo tiền đề thúc đẩy tăng trưởng lượng khách đạt mốc trên 1,82 triệu lượt và doanh thu xã hội vượt 1.624 tỷ đồng mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng đồng thời hai lý thuyết nền tảng trong khoa học pháp lý và quản trị công:

Thứ nhất là Lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế bằng pháp luật. Lý thuyết này khẳng định vai trò điều tiết, định hướng và kiểm soát của Nhà nước đối với các quan hệ kinh tế thông qua quyền lực công, nhằm bảo đảm sự phát triển hài hòa, trật tự và kỷ cương theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai là Lý thuyết phát triển du lịch bền vững. Lý thuyết này nhấn mạnh yêu cầu cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên và bảo đảm an ninh quốc phòng vùng biển đảo.

Mô hình nghiên cứu phân tích sự tác động tương hỗ giữa bốn nhóm khái niệm cốt lõi:

  • Quản lý nhà nước về du lịch biển: Sự tác động có tổ chức bằng quyền lực công quyền đối với hoạt động du lịch nhằm bảo tồn tài nguyên biển và phát triển kinh tế bền vững.
  • Thể chế và hành lang pháp lý du lịch biển: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm Luật Du lịch 2017, Nghị định số 168/2017/NĐ-CP, Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị và các nghị quyết điều hành của địa phương.
  • Chủ thể và đối tượng quản lý: Hệ thống cơ quan hành chính từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch đến Ủy ban nhân dân các cấp, trực tiếp là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh; điều chỉnh hành vi của hơn 150 cơ sở kinh doanh, du khách và lực lượng lao động.
  • Sản phẩm du lịch biển đảo: Tập hợp các dịch vụ nghỉ dưỡng, tham quan thắng cảnh, văn hóa lịch sử và thể thao biển.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp xác thực từ các báo cáo chính thức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, Niên giám thống kê, báo cáo thanh tra chuyên ngành giai đoạn 2014 - 2018 và tài liệu từ Viện Nghiên cứu phát triển du lịch.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 100% hệ thống văn bản pháp quy liên quan do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị ban hành, toàn bộ hồ sơ quản lý của 13 dự án đầu tư ven biển Cửa Việt với tổng vốn đăng ký 3.164 tỷ đồng trên diện tích hơn 51 ha, cùng dữ liệu thanh tra thực tế của 195 lượt đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch từ năm 2014 đến năm 2018. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích kết hợp điều tra toàn diện tại 12 xã ven biển, 4 xã cửa lạch và huyện đảo Cồn Cỏ. Lý do lựa chọn nhằm phản ánh đầy đủ, chính xác thực trạng thi hành pháp luật tại các địa bàn trọng điểm du lịch của tỉnh.

Phương pháp phân tích chủ đạo gồm phân tích quy phạm pháp luật, thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh đối chiếu số liệu theo chuỗi thời gian 5 năm (2014 - 2018) nhằm lượng hóa tính hiệu lực của các chính sách công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra 4 phát hiện thực chứng nổi bật về thực trạng du lịch biển tại Quảng Trị:

Thứ nhất, lượng khách và doanh thu tăng trưởng ấn tượng qua các năm. Năm 2018, tổng lượng khách đến Quảng Trị đạt 1.820.000 lượt, tăng 10,3% so với năm 2017; trong đó khách quốc tế đạt 168.000 lượt (tăng 2,4%) và khách nội địa đạt 1.652.000 lượt. Tổng doanh thu xã hội từ du lịch năm 2018 đạt 1.624 tỷ đồng, tăng 6,8% so với năm 2017; riêng doanh thu lưu trú và lữ hành chuyên ngành đạt 398 tỷ đồng, tăng trưởng 9,3%.

Thứ hai, công tác quy hoạch và đầu tư kết cấu hạ tầng có nhiều nỗ lực nhưng tiến độ còn chậm. Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 bố trí 45,5 tỷ đồng cho dự án cơ sở hạ tầng bãi tắm Gio Hải (riêng năm 2018 giải ngân 100% kế hoạch với 6 tỷ đồng). Tại Khu dịch vụ - du lịch Cửa Việt có 13 dự án đăng ký với tổng vốn 3.164 tỷ đồng trên diện tích 51 ha, nhưng mới chỉ có 5 dự án đi vào hoạt động chính thức.

Thứ ba, cơ cấu nguồn nhân lực du lịch bộc lộ điểm nghẽn nghiêm trọng về chất lượng. Tổng nhân lực du lịch của tỉnh năm 2018 là 23.730 người, nhưng nhóm lao động chưa qua đào tạo lên tới 18.700 người, chiếm tỷ trọng áp đảo 78,8%. Tỷ lệ lao động có trình độ đại học và trên đại học chỉ đạt 1.080 người (chiếm 4,55%), trình độ cao đẳng và trung cấp đạt 1.150 người (chiếm 4,85%), cho thấy sự thiếu hụt trầm trọng nhân lực chuyên môn cao.

Thứ tư, hiệu quả công tác thanh tra và thực thi pháp luật được nâng cao rõ rệt. Giai đoạn 2014 - 2018, số đơn vị được thanh tra tăng từ 31 đơn vị lên 45 đơn vị. Số tiền xử phạt vi phạm hành chính tăng gấp 2 lần, từ 36 triệu đồng năm 2014 lên 72 triệu đồng năm 2018. Cơ quan quản lý đã giải quyết dứt điểm 100% số vụ khiếu nại, tố cáo (đạt 6/6 vụ giải quyết năm 2018), không để xảy ra tình trạng tồn đọng hồ sơ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của những thành tựu trên xuất phát từ sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua việc ban hành kịp thời Kế hoạch số 1142/KH-UBND và Nghị quyết số 35/2017/NQ-HĐND nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tuy nhiên, sự phát triển chưa tương xứng với tiềm năng là do sự phối hợp liên ngành giữa du lịch, tài nguyên môi trường và giao thông vận tải còn lúng túng; tác động tiêu cực sau sự cố môi trường biển miền Trung năm 2016; hạ tầng phụ trợ tại các bãi tắm Cửa Tùng (135 ha) và Cửa Việt (141 ha) bị xuống cấp.

Trong các báo cáo quản lý, toàn bộ dữ liệu trên có thể được trình bày một cách trực quan thông qua:

  • Biểu đồ kết hợp cột - đường thể hiện tương quan giữa tốc độ tăng trưởng lượng khách (1,82 triệu lượt) và doanh thu xã hội (1.624 tỷ đồng) giai đoạn 2014 - 2018.
  • Biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu nhân lực năm 2018 với lát cắt 78,8% lao động chưa qua đào tạo nhằm nhấn mạnh sự cấp bách của công tác chuẩn hóa nghề.
  • Bảng tổng hợp đối chiếu số liệu thanh tra, số vụ xử phạt và số tiền phạt (từ 36 triệu đồng lên 72 triệu đồng) qua 5 năm để minh chứng cho kỷ cương pháp luật ngày càng được siết chặt.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch biển tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn tới, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý và nâng cao chất lượng quy hoạch không gian biển. Ủy ban nhân dân tỉnh cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần chủ trì rà soát, điều chỉnh 100% quy hoạch chi tiết tam giác du lịch Cửa Việt (141 ha) - Cửa Tùng (135 ha) - Đảo Cồn Cỏ (230 ha) trong giai đoạn 2020 - 2023, phấn đấu đưa tỷ trọng du lịch đóng góp 7% đến 8% tổng GRDP của địa phương vào năm 2025.

Thứ hai, tập trung nguồn lực phát triển hạ tầng kỹ thuật và kiên quyết xử lý dự án chậm tiến độ. Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh phối hợp Sở Kế hoạch và Đầu tư tiến hành rà soát, thu hồi đất đối với các dự án chậm tiến độ trong số 13 dự án tại Cửa Việt; hoàn thành giải ngân 100% gói vốn ngân sách 45,5 tỷ đồng cho hạ tầng bãi tắm Gio Hải và thu hút thêm 3.500 tỷ đồng vốn đầu tư xã hội hóa vào kết cấu hạ tầng ven biển trước năm 2025.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao năng lực nguồn nhân lực du lịch. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Đại học Huế và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tổ chức bồi dưỡng định kỳ cho 5.000 lượt lao động mỗi năm; đặt mục tiêu kéo giảm tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo từ 78,8% xuống dưới 40% vào năm 2025, đồng thời nâng quy mô nhân lực có trình độ đại học trở lên đạt mốc trên 2.000 người.

Thứ tư, siết chặt kỷ cương thanh tra, kiểm tra và bảo vệ môi trường sinh thái biển. Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện kiểm tra định kỳ 100% cơ sở kinh doanh (hơn 150 cơ sở lưu trú, nhà hàng ven biển); xử lý nghiêm các hành vi xả thải trái phép và giải quyết 100% phản ánh, khiếu nại của du khách trong thời hạn tối đa 24 giờ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp tỉnh Quảng Trị. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn để xây dựng các đề án, kế hoạch phát triển du lịch, chuẩn hóa quy trình cấp thẻ hướng dẫn viên và thực hiện thanh tra 45 đơn vị kinh doanh mỗi năm theo đúng quy định của Luật Du lịch 2017.

Thứ hai, các nhà đầu tư, doanh nghiệp lữ hành và tổ chức kinh doanh dịch vụ du lịch ven biển. Luận văn cung cấp bức tranh toàn cảnh về quy hoạch không gian biển, tình hình 13 dự án với tổng vốn 3.164 tỷ đồng tại Cửa Việt, giúp doanh nghiệp nhận định rõ cơ hội đầu tư hạ tầng, hoàn thiện sản phẩm tour tuyến và nắm vững quy chuẩn pháp lý để tránh các chế tài xử phạt hành chính.

Thứ ba, giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Quản lý công, Kinh tế du lịch. Luận văn là công trình nghiên cứu hệ thống hóa sâu sắc về lý luận pháp luật quản lý du lịch biển với chuỗi số liệu thực chứng 5 năm (2014 - 2018), phục vụ công tác giảng dạy và phát triển các đề tài liên quan.

Thứ tư, sinh viên đại học các ngành Luật học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành. Tài liệu đóng vai trò là nguồn tham khảo học thuật chuẩn mực, hỗ trợ sinh viên củng cố phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính, đồng thời hiểu rõ cơ chế vận hành của cơ quan công quyền trên dải ven biển dài 75 km của đất nước.

Câu hỏi thường gặp

Khung pháp lý cao nhất điều chỉnh quản lý nhà nước về du lịch biển hiện nay là gì? Hành lang pháp lý quan trọng nhất gồm Luật Du lịch 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, Nghị định số 168/2017/NĐ-CP và Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch, tạo nền tảng điều chỉnh toàn diện hoạt động của các tổ chức, cá nhân.

Tiềm năng nổi bật của du lịch biển tỉnh Quảng Trị được xác định gồm những gì? Quảng Trị có bờ biển dài 75 km với nhiều bãi tắm đẹp như Cửa Tùng (135 ha), Cửa Việt (141 ha), Mỹ Thủy, Triệu Lăng cùng huyện đảo Cồn Cỏ có diện tích 230 ha nằm cách bờ 28 km. Tỉnh sở hữu vị trí đầu mối trên Hành lang kinh tế Đông - Tây kết nối giao thương quốc tế với 2 cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và La Lay.

Hạn chế lớn nhất về nguồn nhân lực du lịch tại Quảng Trị giai đoạn 2014 - 2018 là gì? Hạn chế lớn nhất là chất lượng chuyên môn thấp khi năm 2018 có tới 18.700 người trên tổng số 23.730 lao động (chiếm tỷ trọng 78,8%) chưa qua đào tạo nghề. Tỷ lệ lao động đạt trình độ đại học và trên đại học chỉ chiếm 4,55% (1.080 người), gây khó khăn cho việc nâng cao chất lượng phục vụ du khách quốc tế.

Công tác thanh tra, kiểm tra du lịch biển Quảng Trị giai đoạn 2014 - 2018 đạt kết quả ra sao? Thanh tra ngành đã tiến hành kiểm tra 195 lượt đơn vị trong 5 năm. Riêng năm 2018, thanh tra 45 đơn vị, xử phạt vi phạm 9 cơ sở với số tiền 72 triệu đồng (tăng gấp đôi so với mức 36 triệu đồng năm 2014), đồng thời giải quyết 100% khiếu nại, tố cáo, không để xảy ra tình trạng tồn đọng hồ sơ vụ việc.

Mục tiêu kinh tế cụ thể của du lịch Quảng Trị giai đoạn 2020 - 2025 được xác định thế nào? Chương trình hành động của Tỉnh ủy xác định mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, đóng góp từ 7% đến 8% tổng GRDP của tỉnh vào năm 2020. Tỉnh đặt mục tiêu đón trên 1,82 triệu lượt khách/năm và đạt doanh thu xã hội trên 1.624 tỷ đồng thông qua việc hình thành khu du lịch quốc gia Cửa Việt - Cửa Tùng - Cồn Cỏ.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý luận khoa học và pháp lý về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực du lịch biển đảo.
  • Đánh giá thực chứng toàn diện tiềm năng 75 km bờ biển và chuỗi dự án đầu tư 3.164 tỷ đồng tại dải ven bờ Cửa Việt - Cửa Tùng.
  • Phân tích bức tranh tăng trưởng kinh tế ấn tượng đạt mốc 1.820.000 lượt khách và doanh thu 1.624 tỷ đồng trong năm 2018.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn then chốt về chất lượng nhân lực với 78,8% lao động chưa qua đào tạo và hạ tầng kết nối chưa đồng bộ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi, đồng bộ về pháp lý, hạ tầng, nhân sự và thanh tra cho giai đoạn 2020 - 2025.

Đóng góp chính của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc giúp chính quyền địa phương hoàn thiện cơ chế quản lý công quyền, gắn kết chặt chẽ giữa khai thác kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia. Lộ trình tiếp theo cần tập trung giải ngân hiệu quả 45,5 tỷ đồng hạ tầng công và chuẩn hóa 5.000 lao động du lịch mỗi năm. Các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu quan tâm hãy khai thác chi tiết toàn văn công trình để ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn quản trị và phát triển kinh tế biển bền vững.