Phần mở đầu của Luật Di sản Văn hóa (sau đây gọi là DSVH) của Việt Nam đã viết: " DSVH Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta" [37]. Theo nghĩa Hán Việt, DSVH là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai. Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị.
Luật DSVH của Việt Nam tại Điều 1 đã nêu rõ "DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [29]. Đây có thể xem là khái niệm về DSVH được sử dụng chung nhất ở nước ta hiện nay và tương tự như khái niệm về DSVH được sử dụng trên thế giới. Điều đó có nghĩa DSVH là của cải, là tài sản quốc gia mà mọi công dân phải có nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn. DSVH là yếu tố cốt lõi của văn hóa, chuyển tải bản sắc văn hóa của một cộng đồng xã hội.
Vì thế, bảo tồn và phát huy giá trị DSVH là vấn đề quan trọng của chính sách văn hóa nhằm hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần vào 9 e việc giữ gìn và làm phong phú cho kho tàng DSVH nhân loại, là động lực tích cực để xây dựng và phát triển đất nước. - Phân loại di sản văn hoá: Việc tiến hành phân loại DSVH là một nhu cầu thiết thực, khoa học, góp phần hỗ trợ, nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu, đặc biệt đối với công tác tu bổ, bảo tồn các DSVH. Luật DSVH năm 2001 và được điều chỉnh tại Luật DSVH năm 2009 ghi rõ: "DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [39]. DSVH vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định.
DSVH vật thể được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt. Loại hình DSVH này luôn chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động của con người thời đại sau. DSVH vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc. Theo Luật DSVH năm 2001: “DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”.
Tuy nhiên, sự phân định này cũng chỉ mang tính tương đối với mục đích để nghiên cứu những đặc tính riêng của từng di sản. Thực tế, thì tế yếu tố vật thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản. Khi đó, DSVH phi vật thể là linh hồn, là cốt lõi, là biểu hiện tinh thần của DSVH vật thể; còn cái hiện hữu, cái làm nên DSVH vật thể thì tồn tại như là biểu hiện vật chất của DSVH phi vật thể ấy. 10 e Ngoài ra, còn có cách phân loại khác đó là căn cứ trên giá trị của di sản để phân chúng thành những nhóm di sản có giá trị đặc biệt quan trọng hay nhóm di sản có mức độ quan trọng cấp quốc tế; cấp quốc gia hay cấp địa phương.
Song nhìn chung, các DSVH vẫn có bốn đặc điểm chung, đó là: Tính biểu trưng đại diện cho mỗi nền văn hóa của một quốc gia, một dân tộc; Tính lịch sử là những đặc trưng của thời đại và đại diện cho thời đại sinh ra chúng, nền văn minh và kỹ thuật tái tạo chúng; Tính truyền thống lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác được phát triển và sáng tạo mới trên nền của di sản cũ; Tính nhạy cảm, dễ bị ảnh hưởng dưới các tác động khác nhau của con người, của điều kiện thời tiết, các phản ứng hóa học… 1. Khái niệm di tích Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của Trường Đại học Văn hóa đưa ra khái niệm khoa học về di tích như sau: Là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại. Như vậy, di tích là dấu vết của quá khứ còn lại lưu trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử. Tại Chương 3, Điều 11 của Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH về phân loại di tích thì di tích được phân thành 4 loại: Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân); Di tích kiến trúc nghệ thuật; Di tích khảo cổ; Danh lam thắng cảnh.
Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích được chia thành 3 loại: Di tích cấp tỉnh - là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương do UBND tỉnh ra quyết định công nhận; Di tích quốc gia - là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia do Bộ BHTTDL ra quyết định công nhận; Di tích quốc gia đặc biệt - là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia” [39] do Thủ tướng 11 e Chính phủ ra quyết định công nhận trên cơ sở lựa chọn các di tích quan trọng đã được Bộ VHTTDL xếp hạng là di tích quốc gia. * Về hình thức quản lý di tích được chia thành 3 loại: - Di tích do nhà nước trực tiếp quản lý: là các di tích quốc gia đặc biệt và di tích quốc gia do các Ban quản lý di tích được Nhà nước thành lập trực tiếp quản lý. Nhà nước cấp lương, chi phí cho hoạt động thường xuyên, các chi phí sửa chữa. trực tiếp cho Ban quản lý di tích.
- Di tích do cộng đồng dân cư trực tiếp quản lý: là các di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh được giao cho tổ chức nhân dân trực tiếp quản lý như đình làng, các chùa, đền thờ. - Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý như: nhà thờ dòng họ, nhà ở dân cư trong các khu phố cổ, sắc phong, bảo vật của dòng họ. Tùy theo điều kiện khai thác giá trị di tích để phân thành 2 loại là di tích có khả năng khai thác và di tích chưa có khả năng khai thác. Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa DTLS-VH là một bộ phận quan trọng của DSVH dân tộc, là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể về đặc điểm văn hoá mỗi nước.
Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá nghệ thuật của mỗi quốc gia. DTLS-VH có khả năng rất lớn góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người; góp phần vào việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử. Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. “DTLS-VH là sản phẩm của các thế hệ người trải qua thời gian còn tồn tại đến nay, nó kết tinh của một quá trình sáng tạo của con người.
Vì vậy, nó là chứng cớ vật chất tiêu biểu về quá trình phát triển lịch sử của mỗi cộng đồng dân tộc và nhân loại” [38]. Theo Luật DSVH năm 2001 thì DTLS-VH là công trình xây dựng, địa 12 e điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học. Luật DSVH sửa đổi năm 2009 quy định: DTLS-VH phải có một trong các tiêu chí sau đây: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật [39]. Khái niệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa QLNN về DTLS-VH là hoạt động chấp hành, điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước được tiến hành trên cơ sở pháp luật và thi hành pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân, tổ chức trong việc bảo quản, tu bổ và phục hồi DTLS-VH.
Chủ thể QLNN về trùng tu DTLS-VH là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc quản lý trùng tu DTLS-VH. Đối tượng QLNN về trùng tu DTLS-VH là các cá nhân hoặc tổ chức có liên quan đến lĩnh vực trùng tu DTLS-VH. Khách thể QLNN về trùng tu DTLS-VH là trật tự quản lý trong toàn bộ quá trình trùng tu DTLS-VH cũng như các hành vi của các cá nhân, tổ chức trong quá trình trùng tu DTLS-VH nhằm gìn giữ, bảo vệ và khai thác các giá trị của di tích phục vụ sự phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần cho cộng đồng. Như vậy, QLNN về DTLS-VH chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực.
Trong đó tập trung các nội 13 e dung: - Bảo quản DTLS-VH: là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của DTLS-VH. Bảo quản di tích gồm các hoạt động như bảo dưỡng thường xuyên cho di tích, bảo quản cấp thiết và bảo quản phòng ngừa.