Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN SỐ 1. Các khái niệm liên quan đến quản lý nhà nước về công tác dân số 1. Dân số Khái niệm Dân số Có rất nhiều cách tiếp cận khái niệm dân số khác nhau dựa theo các lĩnh vực của đời sống xã hội: Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “Dân số là tập hợp những người cư trú thường xuyên và sống trên một lãnh thổ nhất định (một nước, một vùng kinh tế, một đơn vị hành chính - lãnh thổ)” [33, tr. Theo khoa học quản lý, khái niệm dân số được tiếp cận trên các góc độ số lượng, quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng của một tập hợp người trong một đơn vị hành chính lãnh thổ trong một thời điểm nhất định.
Theo cách tiếp cận trong nhân khẩu học, dân số là một tập hợp số lượng người trong phạm vi nào đó và có một số tính chất gắn liền với sự tái sản xuất liên tục của nó. Pháp lệnh Dân số Số 6/2003/PL-UBTVQH11 ngày 09/01/2003 đưa ra khái niệm dân số như sau: “DS là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính tại một thời điểm nhất định, là nguồn lao động quí báu cho sự phát triển kinh tế-xã hội, thường được đo bằng cuộc điều tra DS và biểu hiện bằng tháp DS” [25]. Nói đến DS là nói đến quy mô, cơ cấu, phân bố và những thành tố gây nên sự biến động của dân số như: sinh, chết, di cư. Do đó, DS thường được 11 e nghiên cứu cả ở trạng thái tĩnh (tại một thời điểm), trạng thái động (trong một thời kỳ).
Dựa trên những quan điểm khác nhau đó, đề tài đã rút ra được khái niệm dân số như sau: Dân số là số lượng, quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng của một tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính tại một thời điểm, thời kỳ nhất định. Việc xác định khái niệm dân số trên góc độ QLNN có ý nghĩa nhất định trong công tác quản lý của các cơ quan nhà nước, giúp xác định đặc điểm, đặc trưng, phạm vi khái niệm dân số, từ đó có thể đề ra những giải pháp quản lý dân số cụ thể để tác động đến đứng đối tượng quản lý và khách thể quản lý là quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân cư của một đơn vị hành chính lãnh thổ. Ngoài ra để có cơ sở nghiên cứu QLNN về DS, cần làm rõ một số khái niệm liên quan: - Quy mô DS, là tổng số dân sinh sống trên vùng lãnh thổ đó (một khu vực, một quốc gia. Quy mô DS có thể tính theo tổng số dân tại một thời điểm (đầu kỳ, cuối kỳ, một thời điểm nào đó) hoặc tổng số DS trung bình của một thời kỳ.
“Nhà nước điều chỉnh quy mô dân số phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên, môi trường thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế -xã hội, chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình để điều chỉnh mức sinh và ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý” [25]. - Cơcấu DS, là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác. Tùy thuộc vào những đặc trưng phân biệt và mục đích phân loại, người ta chia cơ cấu dân số thành các loại sau: Một là, cơ cấu DS theo giới (đơn vị%); Hai là,cơ cấu DS theo độ tuổi (đơn vị %); 12 e Ba là, cơ cấu DS theo lao động; Bốn là, cơ cấu DS theo trình độ văn hóa. - Phân bố dân cư, là sự phân chia tổng số dân theo khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính.
Đây là sự sắp xếp số dân một cách tự phát hoặc tự giác trên một lãnh thổ phù hợp với điều kiện sống cũng như các yêu cầu khác của xã hội. Lúc đầu, sự phân bố dân cư mang tính chất bản năng, khi lực lượng sản xuất phát triển, sự phân bố dân cư có ý thức và có quy luật. Ở nhiều nước, do quá trình phát triển công nghiệp ồ ạt và quá trình đô thị hóa, dân cư sống tập trung ở một số trung tâm công nghiệp và một số thành phố lớn. Tại đây, nhân dân lao động thường phải sống chen chúc trong những khu chật hẹp, thiếu tiện nghi và môi trường bị ô nhiễm nặng nề.
Trong khi đó ở các vùng nông nghiệp thì dân cư thưa thớt. Ngược lại, một số nước đã chú trọng đến việc phân bố dân cư theo kế hoạch. Số dân thành thị tăng nhanh nhưng vẫn phù hợp với sự phát triển công nghiệp. Bên cạnh đó, dân cư còn được phân bố lại ở các vùng thưa dân nhưng giàu tiềm năng, nhằm tạo điều kiện khai thác tốt mọi nguồn tài nguyên, tận dụng và điều hòa nguồn lao động giữa các vùng trong phạm vi cả nước.
- Chất lượng DS:Theo Pháp lệnh DS, chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số, chất lượng DS gồm những thành tố sau: + Thể chất: gồm các số đo về chiều cao, cân nặng, sức mạnh, tốc độ, sức bền, sự khéo léo dinh dưỡng, bệnh tật, tuổi thọ, các yếu tố giống nòi, gen di truyền (như tật nguyền bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ, nhiễm chất độc hóa học, chất độc màu da cam) của người dân; + Trí tuệ: gồm các yếu tố trình độ học vấn, thẩm mỹ, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu ngành nghề, thể hiện qua tỉ lệ biết chữ, số năm bình 13 e quân đi học/đầu người, tỉ lệ người có bằng cấp, được đào tạo về chuyên môn kỹ thuật; + Tinh thần: gồm các “yếu tố về ý thức và tính năng động xã hội thể hiện qua mức độ tiếp cận và tham gia các hoạt động xã hội, văn hóa, thông tin, vui chơi, giải trí của người dân” [25]. - Di cư: Là sự di chuyển DS từ quốc gia này đến cư trú ở quốc gia khác, từ đơn vị hành chính này tới cư trú ở đơn vị hành chính khác. - Sức khoẻ sinh sản: sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trong suốt các giai đoạn của cuộc đời. - Kế hoạch hóa gia đình: Là nỗ lực của Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình.
- Công tác DS: “Là việc quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động tác động đến quy mô DS, cơ cấu DS, phân bố dân cư và nâng cao chất lượng DS” [25]. - Chỉ số phát triển con người (HDI) là số liệu tổng hợp để đánh giá mức độ phát triển con người, được xác định qua tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người. - Mức sinh thay thế: “Mức sinh thay thế” là mức sinh mà một đoàn hệ phụ nữ trung bình có vừa đủ số con gái để “thay thế” họ trong quá trình tái sinh sản DS. Có thể phải hai hoặc ba thế hệ sau (từ 50 đến 70 năm) khi mỗi trường hợp sinh ra sống được cân bằng bởi một người chết trong DS thì DS mới đạt được trạng thái “ổn định”.
Hay nói ngắn gọn hơn “Mức sinh thay thế là mức sinh mà trung bình một phụ nữ trong toàn bộ cuộc đời sinh đẻ của 14 e mình sinh đủ số con gái để thay thế mình thực hiện chức năng sinh đẻ, duy trì nòi giống. - Dịch vụ DS: Là các hoạt động phục vụ công tác DS, bao gồm cung cấp thông tin, tuyên truyền, giáo dục, vận động, hướng dẫn, tư vấn về DS (sau đây gọi chung là tuyên truyền, tư vấn); cung cấp biện pháp chăm sóc SKSS, KHHGĐ, nâng cao chất lượng DS và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. - Đăng ký DS: Là việc thu thập và cập nhật những thông tin cơ bản về DS của mỗi người dân theo từng thời gian. - Kế hoạch hóa gia đình Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới: KHHGĐ bao gồm những hoạt động giúp các cá nhân hay các cặp vợ chồng để đạt được những mục tiêu: Tránh những trường hợp sinh không mong muốn; Đạt được những trường hợp sinh theo ý muốn; Điều hòa khoảng cách giữa các lần sinh; Chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với lứa tuổi.
KHHGĐ là nỗ lực của Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình. Như vậy, KHHGĐ là sự lựa chọn có ý thức của các cặp vợ chồng nhằm điều chỉnh số con, thời điểm sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh con. KHHGĐ không chỉ là các biện pháp tránh thai mà còn giúp đỡ các cặp vợ chồng để có thai và sinh con. Thực hiện KHHGĐ nhằm mục đích xây dựng gia đình ít con, khỏe mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc và xây dựng đất nước phồn vinh.
Việc quyết định thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh trước hết phải bảo đảm sinh ra những đứa con khỏe mạnh, nuôi 15 e dạy con được chu đáo, bảo vệ sự sống, sức khỏe của người mẹ; bảo đảm cho các cặp vợ chồng có đủ thời gian, sức khỏe và điều kiện phát triển toàn diện bản thân, đóng góp cho xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của gia đình và toàn xã hội; cùng toàn dân thực hiện mục tiêu phát triển con người của đất nước. Hiện nay có các loại hình dịch vụ KHHGĐ nhằm cung cấp, phục vụ nhu cầu của người dân. Đó là các hoạt động phục vụ công tác KHHGĐ, bao gồm cung cấp thông tin, tuyên truyền, giáo dục, vận động, hướng dẫn, tư vấn và cung cấp kỹ thuật, phương tiện tránh thai, phòng chống vô sinh theo quy định của pháp luật.