CHƯƠNG I: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC DOI VỚI CÁC STBL CO VON DTTTNN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Đã có một số công trình nghiên cứu về công tác QLNN trong lĩnh vực bán lẻ nói chung và siêu thị bán lẻ nói riêng như: - Luận án Tiến sĩ (2009): “Giải pháp phát triển các loại hình tổ chức bán lẻ văn minh, hiện đại ở Việt Nam” Phạm Hữu Thìn, Bộ Công Thương. Đề tài đã nêu được thực trạng quản lý nhà nước đối với các loại hình tổ chức bán lẻ văn minh hiện đại nói chung và loại hình tổ chứ bán lẻ có yếu tổ nước ngoài nói riêng (như Siêu thị, TTTM, TTMS, cửa hàng tiện ích,. Chỉ rõ những kết quả, hạn chế, bất cập, nguyên nhân và những vấn đề cần giải quyết trong sự phát triển và quản lý Nhà nước đối với các loại hình bán lẻ hiện đại. Đồng thời, đề tài cũng đưa ra được những giải pháp vi mô (đối với doanh nghiệp bán lẻ) và giải pháp vĩ mô (đối với nhà nước) dé phát triển các loại hình tô chức bán lẻ văn minh hiện đại tại Việt Nam.
Tuy nhiên, van dé quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán lẻ có yếu tổ nước ngoài chỉ là một nội dung nhỏ trong toàn bộ nghiên cứu. - Luận Văn Thạc sỹ kinh tế (2010): “Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ phân phối có yếu tổ nước ngoài ở Việt Nam”. Nguyễn Thị Hương Giang, Trường Đại học Thương mại. Đề tài đã nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước đối với dịch vụ phân phối có yếu tố nước ngoài như dich vụ bán buôn, dich vụ bán lẻ, dịch vụ đại lý uỷ quyền và nhượng quyền thương mại.
Đặc biệt đề tài đã đi sâu nghiên cứu các Siêu thị, Trung tâm thương mại có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. Chỉ ra được những kết quả, hạn chế, những điểm cần khắc phục của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này. Nêu được các kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ phân phối có yếu tố nước ngoài ở một số quốc gia và đưa ra một số giải pháp rất thiết thực về công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này ở Việt Nam. - Luận văn Thạc sỹ kinh tế (2011): “Quản lý nhà nước địa phương đối với phát triên các cơ sở bán lẻ hiện đại có yêu tô nước ngoài trên địa bàn Hà Nội giai đoạn hiện nay” Lê Thị Thu Hiền, Trường Đại học Thương Mại.
Đề tài đã hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước địa phương đối với phát triển các cơ sở bán lẻ hiện đại có yếu tố nước ngoài; phân tích thực trạng quản lý nhà nước địa phương về phát triển các co sở bán lẻ hiện đại có yếu tố nước ngoài trên địa ban Hà Nội rút ra những điểm còn tồn tại trong quản lý nhà nước về thương mại trên địa bàn Hà Nội. Tuy đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về cơ sở bán lẻ như đã nêu trên, nhưng những công trình nghiên cứu này đề cập đến van dé quản lý nhà nước dưới các góc độ tiếp cận khác nhau. Theo tìm hiểu của tác giả, đến nay hầu như chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về các cơ sở phân phối bán lẻ nước ngoai trên địa bàn Hà Nội. Hơn nữa hau hết các công trình nghiên cứu đã được thực hiện đều cần được cập nhật số liệu thông tin và cần có những điều chỉnh mới cho phù hợp với thực tiễn.
Vì vậy, việc nghiên cứu dé tài luận văn sẽ không bị trùng lặp, đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn về việc quản lý nhà nước đối với các siêu thị bán lẻ trên địa bàn Hà Nội hiện nay. Khái quát về hệ thống phân phối, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và siêu thị bán lẻ nước ngoài 1. Một số van đề về các siêu thị bán lẻ có vốn DTTT nước ngoài 1. STBL có vẫn dau tư trực tiếp nước ngoài Hoạt động phân phối có thể đ- oc xem xét d- ới nhiều góc độ khác nhau.
Đối với ng- Oi sản xuất, phân phối là những cách thức và những tổ chức giúp ho đạt tới các khách hàng cuối cùng. Lựa chọn một chính sách phân phối có nghĩa là lựa chọn những ph- ong thức phân phối phù hợp nhất cho việc bán một hàng hóa hoặc dịch vụ. Đối với ng- ời tiêu dùng, hoạt động phân phối đ- oc thể hiện chủ yếu tại các cửa hàng bán lẻ — mắt xích cuối cùng của quá trình biến đổi, vận chuyển, dự trữ va đ- a hàng hóa, dịch vụ đến tay ng- ời tiêu dùng. Còn đối với bản thân các nhà phân phối, hoạt động phân phối là một Iinh vực kinh tế riêng biệt có chức năng trung gian giữa ng-ời sản xuất và ng- Oi tiêu dùng.
Tuy nhiên, có thể định nghĩa hoạt động phan phối nh- sau: Phân phối là quá trình l-u thông hàng hóa từ nhà chế tạo/sản xuất hay nhập khẩu tới các nhà phân phối trực tiếp , các đại lý bán hàng hay các công ty th- ong mại, các đối tác thu mua tới tay ng-ời tiêu dùng/các khách hàng kinh doanh, nha chuyên môn (các trung gian phân phối). Các trung gian phân phối bao gồm các thể nhân và pháp nhân kinh tế hợp thức đứng giữa nhà sản xuất và nhà tiêu dùng thực hiện chức năng phân phối hàng hóa để tìm kiếm lợi nhuận cho họ. Theo chức năng của các trung gian phân phối, th- ờng có hai loại trung gian phân phối là trung gian bán buôn và trung gian bán lẻ. Tuy nhiên, trong thực tế lại có trung gian th- ơng mại vừa bán buôn và kiêm cả bán lẻ, khi đó họ sẽ đ- ợc coi là trung gian bán buôn hay bán lẻ là tùy thuộc vào tỷ trọng bán buôn hay bán lẻ cao thấp khác nhau.
Nh- vậy, phân phối bao gồm toàn bộ các quá trình hoạt động theo thời gian và không gian từ lúc kết thúc sản xuất cho đến lúc kết thúc khách hàng cuối cùng nhận đ- ợc sản phẩm tiêu dùng. Đó là các khâu đóng gói, vận chuyển, l-u kho, dự trữ và đem bán cho ng- 6i tiêu dùng. Dù hoạt động phân phối có thé do chính ng- ời sản xuất thực hiện hay do các trung gian đảm nhiệm theo yêu cầu của ng- ời sản xuất, nó luôn đ- ợc coi là chiếc cầu nối giữa ng- ời sản xuất và ng- ời tiêu dùng. Nó giúp cho hàng hóa và dịch vụ có thể thực hiện đ- ợc giá trị và giá trị sử dụng đ- ợc tạo ra trong giai đoạn sản xuất.
Nhờ có phân phối, hàng hóa va dịch vụ mới đ- oc I- u thông rộng khắp trên toàn xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng hon của ng- ời tiêu dùng. Hệ thống phân phối sản phẩm hay dịch vụ từ ng- ời sản xuất đến ng- ời tiêu thụ có thể là trực tiếp hay gián tiếp, có thể đi qua các kênh phân phối dài hay ngắn nh- sau: Bảng 1.1: Sơ đô các kênh phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất cho tới ng ời tiêu thụ cuối cùng Ng-ời sản xuất Ng-ời Ng- 61 Ng-ời san |y bánl |y tiêu xuất dùng Ng- 61 Ng- 61 Ng- 61 Ng- 61 sn | __———DD—— y bán = t=) LL bánlẻ | Sétif xuất buôn dùng Ng-ời Đại lý Ng-ời Ng-ời Ng-ời xuất giới buôn dùng - Kênh trực tiếp (còn gọi là kênh cực ngắn): Khi nhà sản xuất trực tiếp đ- a sản phẩm của mình đến ng- ời tiêu dùng, không qua trung gian nào cả. Bán hang tại các cửa hàng giới thiệu sản phẩm của công ty hay bán hàng qua điện thoại, qua catalogue.chính là những kênh phân phối trực tiếp. - Kênh ngắn: Nhà sản xuất đ- a hàng hóa đến các nhà bán lẻ va từ đó d- a hàng hóa đến với ng- ời tiêu dùng thông qua vai trò trung gian của những ng- ời bán lẻ.
- Kênh trung bình: Hàng hóa qua hai cấp độ trung gian là nhà sản xuất — ng- ời bán buôn, ng- ới bán lẻ, ng- ời tiêu dùng. - Kênh đài: Hàng hóa đi từ nhà sản xuất đến các đại lý hoặc môi giới rồi mới đến ng- ời bán buôn, bán lẻ để đến đ- gc ng- ời tiêu dùng cuối cùng. e Cơ sở bán lẻ : là don vi thuộc sở hữu của doanh nghiệp dé thực hiện việc bán lẻ (theo Khoản 9, Điều 3 của Nghị định 23/2007/NĐ-CP ngày 12/2/2007 của Chính phủ Quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam). + Cơ sở ban lẻ truyền thống: là cơ sở bán lẻ quy mô nhỏ, bán hang theo phương thức phục vụ tại quầy là chủ yếu, hoạt động độc lập và thuộc sở hữu của hộ gia đình.
Việc thực hiện mua bán tại cơ sở bán lẻ truyền thống đòi hỏi người bán và người mua phải trực tiếp gặp gỡ, trao đồi, thỏa thuận về tên hàng, số lượng, chat lượng, giá cả và các điều kiện mua bán khác; người bán hàng phải thực hiện nhiều thao tác trong quy trình kỹ thuật bán hàng và toàn bộ công việc liên quan đến việc bán hàng, từ việc mời chào khách hàng, giới thiệu hàng cho khách, tìm hiểu và khơi dậy nhu cầu của khách hàng cho đến bao gói, đưa hàng cho khách, nhận tiền và tiễn khách,. Khách hàng bị hạn chế trong việc tiếp cận, lựa chọn hàng hóa cần mua. + Cơ sở ban lẻ hiện đại: là cơ sở bán lẻ chủ yêu bán hàng theo phương thức tự phục vụ hoặc kết hợp chọn lấy hàng trên giá cho khách hàng và dé khách hàng tự chọn hang trên giá trưng bay dé ngỏ với sự hỗ trợ của nhân viên bán hang; là bộ phận của chuỗi cửa hàng và thuộc quyền quản lý của một doanh nghiệp. + Cơ sở phân phối bán lẻ nước ngoài Khi Việt Nam thực hiện mở cửa thị trường, đặc biệt là việc tham gia AFTA, APEC, WTO,.đã tạo cơ hội cho rất nhiều các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam dé hoạt động.
Thị trường Việt Nam nói chung và thị trường bán lẻ nói riêng của Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường nhiều tiềm năng nhất đối với các nhà đầu tư trên thế giới. Cùng với xu thế đó hàng loạt các doanh nghiệp, các tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới đã đầu tư vào Việt Nam và hình thành nên những doanh nghiệp nước ngoài.