Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái quát về Doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ “Doanh nghiệp vừa và nhô là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa * Những ưu thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thoả mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp lớn (do quy mô doanh nghiệp nhỏ), sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, những khoảng trống nhỏ và vừa trên thị trường mà các doanh nghiệp lớn không đáp ứng vì mối quan tâm của họ đặt ở các thị trường có khối lượng lớn. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là loại hình sản xuất có địa điểm sản xuất phân tán, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ nên nó có nhiều điểm mạnh: - Thứ nhất: dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường. Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu hoạt động. 6 Vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè, người thân dễ dàng.
Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định. Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ của nó, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng. Từ đó doanh nghiệp sẽ tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế. - Thứ hai: doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao.
Các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên có khả năng mạo hiểm sẽ sẵn sàng mạo hiểm. Trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ đầu được. Bên cạnh đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa có động cơ để đi vào các lĩnh vực mới này: do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt. Họ phải dựa vào lợi nhuận thu được từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm.
- Thứ ba: dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp. Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép. Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn. Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế.
- Thứ tư: không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao động. Quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa tất nhiên là không lớn lắm. Số lượng lao động trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phân công lao động 7 trong doanh nghiệp chưa quá mức rõ rệt. Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người lao động khá gắn bó.
Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp. * Hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa Các hạn chế của loại hình doanh nghiệp này đến từ hai nguồn. Các hạn chế khách quan đến từ thực tế bên ngoài, và các hạn chế đến từ chính các đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa. - Thứ nhất, hạn chế lớn nhất của DNNVV nằm trong chính đặc điểm của nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường.
- Thứ hai, thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trường làm cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thị trường, và thường phụ thuộc vào doanh nghiệp mà nó cung cấp sản phẩm. - Thứ ba, có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp, thiếu bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm, thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển,. nói cách khác là không đủ năng lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao được năng suất và hiệu quả kinh doanh. - Thứ tư, do tính chất nhỏ và vừa của nó, DNNVV gặp khó khăn trong thiết lập chỗ đứng vững chắc trên thị trường, cũng như trong thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương doanh nghiệp đó đang hoạt động.
* Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Tại Việt Nam, ngoài những đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung như đã đề cập ở trên, các DNNVV Việt Nam còn có một số đặc điểm riêng cần nhấn mạnh, nổi bật là: 8 - Thứ nhất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam rất đa dạng về loại hình tổ chức kinh doanh, về lĩnh vực kinh doanh, về hình thức sở hữu, về địa bàn hoạt động. Trước kia trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, các DNNVV tồn tại chủ yếu dưới hai loại là doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã thì hiện nay chúng tồn tại, phát triển ở mọi thành phần kinh tế như doanh nghiệp nhà nước, công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã,… - Thứ hai, tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau. Khi nói đến các DNNVV tại Việt Nam là chủ yếu nói đến các doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài quốc doanh. Do tính lịch sử của quá trình hình thành, phát triển các thành phần kinh tế của nước ta, đại bộ phận các DNNVV đều thuộc khu vực ngoài quốc doanh mà điển hình nhất là kinh tế tư nhân.
Bởi vậy, đặc điểm và tính chất của các doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh, trong đó chủ yếu là khu vực tư nhân mang tính đại diện cho các DNNVV Việt Nam. - Thứ ba, các DNNVV Việt Nam hiện nay gắn liền với công nghệ lạc hậu, trình độ nhân lực không cao, khả năng tiếp cận thông tin chưa tốt. - Thứ tư, môi trường pháp lý cho sự phát triển của các DNNVV Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện nên còn nhiều sự chồng chéo dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện của DNNVV. Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa Các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở bất cứ quốc gia nào đều giữ một vai trò rất quan trọng cho tiến trình phát triển kinh tế của mỗi nước.
Với số lượng doanh nghiệp đông đảo bao gồm mọi thành phần kinh tế, DNNVV đã và đang có những đóng góp không thể phủ nhận vào sự phát triển kinh tế đất nước và giải quyết các vấn đề xã hội. Từ thực tế khách quan bên ngoài, có thể thấy rằng vị trí quan trọng của DNNVV đối với quá trình phát triển của hầu như tất cả các nền kinh tế trên thế giới đã và đang được khẳng định, đặc biệt trong điều kiện sản xuất nhỏ, công nghệ kỹ thuật còn lạc hậu như ở Việt Nam hiện nay. 9 - Thứ nhất, các DNNVV chiếm đa số về mặt số lượng trong tổng số các doanh nghiệp, cung cấp một khối lượng lớn, đa dạng và phong phú về sản phẩm, đóng góp một phần đáng kể vào thu nhập quốc dân và tăng trưởng kinh tế. Trong các loại hình sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay doanh nghiệp nhỏ và vừa có sức lan toả trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
Theo tiêu chí mới thì doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 93% tổng số các doanh nghiệp thuộc các hình thức: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. - Thứ hai, DNNVV góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, góp phần ổn định xã hội. Thực tế những năm qua cho thấy toàn bộ các doanh nghiệp nhỏ và vừa mà phần lớn là khu vực ngoài quốc doanh là nguồn chủ yếu tạo ra công ăn việc làm cho tất cả các lĩnh vực. Số liệu của Tổng cục thống kê cho thấy, hiện nay lao động trong doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 49% lực lượng lao động trên phạm vi cả nước, ở duyên hải miền Trung số lao động làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa so với số lao động trong tất cả các lĩnh vực chiếm cao nhất trong cả nước (67%), Đông Nam Bộ có tỷ lệ thấp nhất (44%) so với mức trung bình của cả nước.
- Thứ ba, khai thác và phát huy tốt các nguồn lực tại chỗ. Từ các đặc trưng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế về địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực tế đã cho thấy doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có mặt ở hầu hết các vùng, địa phương. Chính điều này đã giúp cho doanh nghiệp tận dụng và khai thác tốt các nguồn lực tại chỗ.