Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc đối với ngƣời chấp hành xong án phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với ngƣời chấp hành xong án phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng trên địa bàn thành phố Hà Nội Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với ngƣời chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng trên địa bàn thành phố Hà Nội. 5 e Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI NGƢỜI CHẤP HÀNH XONG ÁN PHẠT TÙ TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG 1. Những khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nƣớc đối với ngƣời chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng 1.Khái niệm quản lý nhà nước về thi hành án phạt tù. Quản lý nhà nƣớc về công tác thi hành án phạt tù (theo nghĩa rộng) là: sự thể hiện vai trò quản lý nhà nƣớc đối với các hoạt động của tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong việc sử dụng quyền lực hành chính - pháp lý để xây dựng và sử dụng phƣơng tiện pháp luật trong lĩnh vực thi hành án đối với loại án phạt tù có thời hạn, tù chung thân theo quy định của nhà nƣớc.
Đồng thời thông qua hoạt động quản lý giáo dục ngƣời bị kết án tù để tiếp tục hoàn thiện pháp luật cơ chế tổ chức thực hiện…trong lĩnh vực thi hành án phạt tù. Cụ thể là: Quản lý nhà nƣớc về thi hành án phạt tù đó là hoạt động của toàn bộ máy nhà nƣớc đảm bảo cho: Một là bản án hình sự (bản án hoặc quyết định phạt tù) có hiệu lực pháp luật của tòa án đƣợc chấp hành đầy đủ và nghiêm minh; Hai là, đảm bảo hiệu lực điều hành, quản lý công tác thi hành án phạt tù của bộ máy nhà nƣớc; Ba là: tuân thủ chính áp dụng trong nội dung bản án: hình phạt tù có thời hạn hoặc hình phạt tù chung thân. Khái niệm người bị kết án phạt tù Tại Điều 3, khoản 3 Luật thi hành án hình sự năm 2010 giải thích: "Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, ngƣời có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành ngƣời có ích cho xã hội". Từ đó ta có thể hiểu: Ngƣời bị kết án phạt tù là ngƣời thi hành bản án phạt tù có thời hạn theo Quyết định của Tòa án, buộc ngƣời bị kết án phạt tù có thời hạn phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam trong thời hạn nhất dịnhđƣợc quy định trong bản án.
Khái niệm phạm nhân Phạm nhân: là ngƣời đã bị Tòa án tuyên là đã có tội phải chịu hình phạt và bản án đã có hiệu lực pháp luật. Điều 3 Luật Thi hành án hình sự 2010 quy định: “Phạm nhân là ngƣời đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân”. Khái niệm Thi hành án phạt tù Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, ngƣời có thẩm quyền theo quy định của Luật Thi hành án hình sự buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo để họ trở thành ngƣời có ích cho xã hội. Các cơ quan nhà nƣớc chuyên trách đƣợc Chính phủ trao quyền, trở thành bộ phận cấu thành của chủ thể quản lý và đảm trách vai trò của chủ thể quản lý.
Thi hành án phạt tù bao gồm: Một là, quy định trình tự thủ tục thi hành án từ khi có quyết định thi hành án; lập hồ sơ thi hành án, tiếp nhận giam giữ phạm nhân, theo dõi giải quyết thi hành án, gửi quyết định thi hành án , thông báo quyết định thi hành án, thủ tục trả tự do cho phạm nhân; cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt tù, quy định về cơ quan thi hành án phải rà soát đối chiếu số lƣợng, danh sách những ngƣời đã có quyết định thi hành án phạt tù hiện còn tại ngoại ở ngoài xã hội để đôn đốc, yêu cầu thi hành án và thực hiện cải cách hành chính trong thi hành án. Hai là, pháp luật thi hành án hình sự quy định về chế độ quản lý giam giữ, giáo dục phạm nhân nói chung (phân loại phạm nhân, các biện pháp bảo đảm trong quá trình tổ chức quản lý giam giữ phạm nhân không để xảy ra các hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của phạm nhân và công tác vũ trang, bảo vệ, tuần tra, canh gác,dẫn giải phạm nhân, xử lý phạm nhân trốn, vi phạm nội quy kỷ luật) và quy định các quyền của phạm nhân (tập trung vào các quyền cơ bản của công dân đã đƣợc Hiến pháp và pháp luật quy định về các quyền ăn, ở, mặc và sinh hoạt, học tập, học nghề và đƣợc thông tin, lao động và hƣởng thành quả lao động, liên lạc, gặp thân nhân, nhận quà, đƣợc chăm sóc y tế của phạm nhân). 7 e Ba là, các quy định khác có liên quan đến thi hành án phạt tù, hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án hành án phạt tù, hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ án phạt tù. Pháp luật thi hành án phạt tù cũng quy định việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình giam giữ nhƣ trích xuất phạm nhân, xử lý phạm nhân trốn, khen thƣởng, xử lý vi phạm và việc liên hệ phối hợp với gia đình phạm nhân và các cơ quan tổ chức cá nhân khác có liên quan.
Nội dung pháp luật này đòi hỏi kết hợp hài hòa giữa các quy định có tính khái quát với các quy định có tính chất chi tiết, cụ thể trong thi hành án phạt tù, nhất là các nội dung liên quan tới quyền của phạm nhân. Nội dung pháp luật thi hành án phạt tù phải tạo ra cơ chế hữu hiệu để phòng ngừa hiệu quả các hành vị vi phạm pháp luật, tạo ra bảo đảm tốt nhất thực hiện các quyền lợi của các bên tham gia thi hành án phạt tù.[28] Quá trình tổ chức thi hành án phạt tù có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và do nhiều cơ quan chức năng phối hợp tổ chức thực hiện mà nòng cốt là lực lƣợng Công an nhân dân, dƣới sự giám sát của Nhà nƣớc, các đoàn thể, tổ chức xã hội và công dân, nhằm đảm bảo cho bản án phạt tù đƣợc thi hành nghiêm chỉnh, loại trừ các vi phạm có thể xảy ra. Các chế định pháp luật quy định thi hành án phạt tù không những ghi nhận vai trò, trách nhiệm và hoạt động của các cơ quan Nhà nƣớc và ngƣời có trách nhiệm thi hành án mà còn điều chỉnh hoạt động chấp hành án của ngƣời bị kết án tù. Một khi bản án có hiệu lực pháp luật tự họ phải đến chấp hành bản án ấy ở một trại giam theo quy định của pháp luật, còn nếu họ tìm cách trốn tránh, cố ý không chấp hành thì bị cƣỡng chế theo pháp luật.
Từ những phân tích trên đây chúng ta có thể đi đến khái niệm về thi hành án phạt tù nhƣ sau: Thi hành án phạt tù là hoạt động tổ chức thi hành bản án, quyết định phạt tù đã có hiệu lực pháp luật của những cơ quan, cá nhân được Nhà nước giao quyền buộc những người bị kết án tù có thời hạn hoặc tù chung thân phải chấp hành bản án phạt tù tại trại giam nhằm mục đích quản lý giáo dục cải tạo họ trở thành những người lương thiện có ích cho xã hội, có ý thức 8 e tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Chủ thể quản lý nhà nước về công tác thi hành án phạt tù Ở đây chủ thể quản lý nhà nƣớc xét dƣới góc độ pháp lý là nhà nƣớc với các hệ thống các cơ quan hành chính nhà nƣớc đƣợc tổ chức chặt chẽ và quy định thẩm quyền theo đúng chức năng của từng loại cơ quan đó. Cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc có hai loại: cơ quan thẩm quyền chung và cơ quan có thẩm quyền riêng. Căn cứ vào Luật Thi hành án hình sự Theo Điều 5 quy định: "Các cơ quan tổ chức và cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn, nghĩa vụ của mình có trách nhiệm phối hợp và thực hiện yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật này trong thi hành án hình sự.
" Theo Điều 10, 11, 12 Luật thi hành án hình sự cũng quy định rõ về hệ thống tổ chức thi hành án , nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Nhƣ vậy, Chính phủ là cơ quan quản lý Nhà nƣớc về công tác thi hành án phạt tù, còn Bộ Công an, Bộ Quốc phòng giúp Chính phủ quản lý công tác thi hành án phạt tù và tổ chức công tác thi hành án phạt tù. Chính vì vậy chủ thể tiến hành quản lý nhà nƣớc chuyên nghành về công tác thi hành án phạt tù đƣợc quy định là Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. Vì vậy Chính phủ là chủ thể quản lý Nhà nƣớc về thi hành án phạt tù.
Có thể nói chủ thể quản lý nhà nƣớc về thi hành án phạt tù là một hệ thống các cơ quan Nhà nƣớc hình thành và hoạt động trong mối quan hệ chặt chẽ nhằm thực hiện nhiệm vụ chung là đảm bảo cho mọi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải đƣợc thi hành nghiêm minh và đúng pháp luật. Hệ thống chủ thê này bị quy định có tính chất đặc điểm của khách thể quản lý và những yêu cầu khách quan của công tác thi hành án hình sự. Đối tượng quản lý Nhà nước về công tác thi hành án phạt tù Đối tƣợng của hoạt động thi hành án phạt tù chính là ngƣời bị kết án tù theo bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Nếu một ngƣời có bản án của Tòa án nhƣng bản án đó chƣa có hiệu lực pháp luật thì họ vẫn chƣa bị coi là 9 e ngƣời bị kết án mà họ vẫn coi là bị cáo.
Bị cáo thì chƣa phải là đối tƣợng của hoạt động thi hành án phạt tù. Khi ngƣời bị kết án tù vào trại giam để chấp hành hình phạt thì họ trở thành phạm nhân. Phạm nhân đƣợc hƣởng các quyền công dân trừ những quyền bị pháp luật tƣớc bỏ, đƣợc nhà nƣớc cấp các chế độ ăn, mặc, ở, phòng chữa bệnh, đƣợc thăm gặp thân nhân.