phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận QLNN về đào tạo nghề cho LĐNT Chƣơng 2: Thực trạng QLNN về đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện QLNN về đào tạo nghề cho LĐNT trên địa bàn huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. e 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Một số khái niệm * Khái niệm đào tạo nghề Luật Giáo dục nghề nghiệp số 18/VBHN-VPQH, ngày 05 tháng 7 năm 2019 quy định: Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp [31].
Có thể hiểu: Đào tạo nghề là hoạt động dạy nghề, học nghề nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết để mọi người có thể tự tạo việc làm, kiếm việc làm hoặc có cơ hội nâng cao chất lượng của quá trình lao động và thăng tiến trong nghề nghiệp. Đào tạo nghề là một nhiệm vụ trọng tâm trong việc phát triển nguồn nhân lực và gắn với việc giải quyết nhu cầu về việc làm của người lao động. * Khái niệm lao động nông thôn LĐNT là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động. Lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những ngƣời thất nghiệp nhƣng có nhu cầu tìm việc làm.
Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lƣợng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những ngƣời trong độ tuổi lao động mà còn có những ngƣời trên hoặc dƣới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình. Từ khái niệm lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào nhƣng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn. e 7 * Khái niệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn ĐTN cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nƣớc, của các cấp, các ngành và toàn xã hội, nhằm nâng cao chất lƣợng LĐNT. Bởi lẽ, LĐNT luôn đƣợc đánh giá là một nguồn nhân lực dồi dào và tiềm năng đối với công cuộc phát triển KT-XH của đất nƣớc.
Tuy nhiên, trên thực tế, trình độ chuyên môn kỹ thuật của ngƣời LĐNT còn nhiều hạn chế, thị trƣờng LĐNT còn mang tính tự phát và chƣa đồng bộ, trình độ học vấn thấp, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ yếu, có nơi gần nhƣ không có hoặc có rất ít lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Bên cạnh đó, việc học nghề còn chƣa thực sự gắn với thị trƣờng sử dụng lao động. Do đó, việc ĐTN cho LĐNT là vấn đề quan trọng, đòi hỏi phải có chính sách, biện pháp phù hợp với điều kiện tự nhiên, KT-XH của từng địa phƣơng. ĐTN cho LĐNT hƣớng nhằm nâng cao chất lƣợng lao động trong tất cả các ngành nghề nhƣng trọng tâm là phát triển các ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp phục vụ quá trình thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
ĐTN cho LĐNT không chỉ tạo ra cơ hội cho LĐNT, nâng cao trình độ tay nghề mà còn gỏp phần hỗ trợ cả về vật chất lẫn tạo cơ hội cho các đối tƣợng thụ hƣởng chính sách (ngƣời học nghề, ngƣời dạy nghề, cơ sở dạy nghề và mạng lƣới trung gian làm cầu nối lao động - thị trƣờng lao động). Có thể khái quát: ĐTN cho LĐNT là quá trình kết hợp giữa dạy nghề và học nghề, đó là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những người LĐNT có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển KT- XH nông thôn. Đặc điểm đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đối tƣợng cho LĐNT có số lƣợng rất lớn. Xã hội loài ngƣời xuất hiện bắt đầu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, vì vậy đại đa số đều bắt đầu từ làm nông nghiệp.
Xã hội ngày càng phát triển ngành nghề mới ngày càng xuất hiện, bộ phận dân cƣ nông nghiệp dần chuyển sang các ngành nghề mới. Quá trình này đẩy nhanh khi các nƣớc bƣớc vào công nghiệp hóa e 8 Đối tƣợng LĐNT rất đa dạng về độ tuổi, trạng thái sức khỏe, điều kiện sản xuất kinh doanh và hoàn cảnh sống. Vì vậy, đào tạo nghề cho LĐNT cần đƣợc triển khai dƣới nhiều hình thức thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh của họ. Trình độ thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp.
Điều này ảnh hƣởng đến năng suất lao động và trình độ phát triển kinh tế. Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng nhƣ trình độ tiếp cận thị trƣờng thấp. Đặc điểm này cũng ảnh hƣởng đến khả năng tự tạo việc làm của lao động. LĐNT nƣớc ta còn mang nặng tƣ tƣởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thƣờng bảo thủ và thiếu năng động.
Các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn Xuất phát từ chủ trƣơng đẩy mạnh ĐTN cho LĐNT tại các địa phƣơng, ĐTN cho LĐNT đƣợc tiến hành theo các hình thức sau: ĐTN cho LĐNT tại vùng chuyên canh, chuyên con. Mục tiêu của các lớp ĐTN cho vùng chuyên canh, chuyên con là giúp LĐNT nâng cao năng suất lao động, tăng chất lƣợng sản phẩm để tăng giá trị kinh tế sau thu hoạch, đồng thời nâng cao ý thức về bảo vệ môi trƣờng, trách nhiệm xã hội và trách nhiệm với cộng đồng nơi họ sinh sống. Đối với những xã miền núi, vùng sâu, vùng xa hoặc những nơi có địa hình chia cắt, nhiều kênh rạch, việc đi lại gặp nhiều khó khăn nên việc đƣa các lớp dạy nghề về tận thôn, bản, xã bằng hình thức dạy nghề lƣu động là một giải pháp, nhằm thúc đẩy phong trào học nghề tại những địa phƣơng đặc thù này. ĐTN cho LĐNT tại các làng nghề.
Trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, làng nghề có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi nhờ có làng nghề, hàng triệu LĐNT đã đƣợc tạo việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập. ĐTN cho LĐNT trong các làng nghề, nhằm đào tạo đội ngũ lao động trẻ để phục hồi, duy trì và phát triển nghề truyền thống. ĐTN kết hợp với xây dựng vùng nguyên liệu, bao tiêu sản phẩm để giúp làng nghề có thể đứng vững, ổn định và phát triển. ĐTN cho LĐNT để họ chuyển đổi nghề.
Với e 9 những nông dân thuộc diện hộ nghèo, ngƣời dân tộc thiểu số, nông dân bị thu hồi đất canh tác gặp khó khăn về kinh tế, có nhu cầu học nghề để có thể chuyển sang làm nghề phi nông nghiệp. Đối với ĐTN dài hạn (trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề) phù hợp với đối tƣợng là thanh niên nông thôn (độ tuổi khoảng 15 - 30), có trình độ học vấn phù hợp và có điều kiện theo học hình thức chính quy, tập trung tại các cơ sở đào tạo trong thời gian tối thiểu từ 01 năm, tối đa là 04 năm tùy thuộc vào nghề và trình độ đào tạo. Đối với ĐTN ngắn hạn (dƣới 03 tháng và trình độ sơ cấp nghề) phù hợp với LĐNT trong độ tuổi từ 30 - 50 vẫn còn đủ khả năng tiếp thu những kiến thức mới, cũng nhƣ kỹ năng tay nghề, có nhu cầu học nghề, nhằm chuyển đổi nghề nghiệp, cải thiện thu nhập. Trong khóa đào tạo, họ sẽ đƣợc thực tập thực tế tại doanh nghiệp, tại cơ sở dạy nghề, trực tiếp tham gia các công đoạn sản xuất và sử dụng các thiết bị hiện đại của doanh nghiệp, đƣợc học về kỷ luật lao động, an toàn lao động và các kỹ năng cần thiết khác.
1 2 Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Một số khái niệm *Khái niệm quản lý nhà nước Thuật ngữ QLNN cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau: Thứ nhất, QLNN là hoạt động có tổ chức bằng pháp quyền của bộ máy nhà nƣớc để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội, chính trị, khoa học, văn hóa - xã hội, nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật tự xã hội theo những mục tiêu đã định. Thứ hai, QLNN là hoạt động của nhà nƣớc trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tƣ pháp, nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nƣớc. Thứ ba, QLNN là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nƣớc để điều hành các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời.
e 10 Thứ tư, QLNN là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực nhà nƣớc; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nƣớc có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của Nhà nƣớc do tất cả các cơ quan nhà nƣớc (lập pháp, hành pháp và tƣ pháp) tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà quyền hạn nhà nƣớc giao cho trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân. Từ những điểm chung của các định nghĩa trên, có thể hiểu: QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. * Khái niệm quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn Từ các khái niệm trên có thể khái niệm: QLNN về ĐTN cho LĐNT là quản lý theo ngành do các cơ quan chức năng thực hiện. Nó mang tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước sử dụng pháp luật để điều chỉnh mọi hoạt động của con người trong lĩnh vực ĐTN cho LĐNT nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của hoạt động này.