Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Đắk Lắk giữ vị trí chiến lược tại trung tâm vùng Tây Nguyên với diện tích tự nhiên 13.125,37 km² và quy mô dân số đạt gần 2,1 triệu người thuộc 49 dân tộc anh em cùng sinh sống. Địa bàn này sở hữu một kho tàng di sản văn hóa vật thể vô cùng phong phú với 38 di tích đã được xếp hạng chính thức cùng hơn 30 di tích tiềm năng. Trong đó, hệ thống di tích đã xếp hạng gồm có 02 di tích quốc gia đặc biệt, 17 di tích quốc gia và 19 di tích cấp tỉnh, phản ánh sâu sắc tiến trình lịch sử dựng nước, giữ nước và bản sắc độc đáo của cộng đồng cư dân bản địa.

Trước tác động mạnh mẽ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, công tác bảo tồn di sản tại địa phương đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Thực tế cho thấy nhiều di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh bị xuống cấp nghiêm trọng dưới tác động của thời tiết khắc nghiệt và áp lực đô thị hóa. Nguồn lực tài chính dành cho việc tu bổ còn hạn hẹp, thủ tục hành chính còn phức tạp, trong khi đội ngũ cán bộ chuyên trách ngành văn hóa còn mỏng về số lượng và hạn chế về năng lực quản lý.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di tích trên địa bàn 15 đơn vị hành chính của tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 2017 - 2020, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu lực quản lý công. Ý nghĩa của đề tài gắn liền với việc chuyển hóa tài nguyên di sản thành động lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và nâng cao mức hưởng thụ văn hóa tinh thần cho nhân dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Luận văn tiếp cận các lý thuyết quản lý công hiện đại nhằm phân tích chức năng quản lý hành chính nhà nước đối với lĩnh vực di sản văn hóa vật thể.

Khung mô hình nghiên cứu tập trung vào 4 trụ cột quản lý nhà nước:

  • Xây dựng và ban hành hệ thống cơ chế, chính sách, quy hoạch và văn bản pháp luật về di tích.
  • Tổ chức, kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước và phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở.
  • Huy động, quản lý và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính, kỹ thuật phục vụ bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.
  • Thanh tra, kiểm tra, giám sát, phòng ngừa vi phạm và đánh giá hiệu quả phát huy giá trị di tích gắn với đời sống xã hội.

Các khái niệm nền tảng được định hình chuẩn xác theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):

  • Di sản văn hóa: Sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
  • Di tích: Dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử, được phân thành 3 cấp (cấp tỉnh, cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt).
  • Bảo tồn di tích: Các hoạt động gìn giữ, bảo vệ, chống hư hỏng nhằm duy trì tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích.
  • Phát huy giá trị di tích: Hoạt động đưa các giá trị lịch sử, văn hóa vào đời sống đương đại, tạo nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục truyền thống.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được cấu thành từ dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thu thập trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2017 đến năm 2020:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương, Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND tỉnh Đắk Lắk, báo cáo định kỳ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk và hệ thống hồ sơ khoa học lưu trữ tại Bảo tàng Đắk Lắk.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Khảo sát chọn mẫu toàn bộ 100% hệ thống gồm 38 di tích đã xếp hạng và hơn 30 di tích tiềm năng trải rộng trên 15 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh. Đồng thời, nghiên cứu lựa chọn mẫu điển hình khảo sát kinh nghiệm quản lý tại 3 địa phương trọng điểm gồm Thủ đô Hà Nội (hơn 5.000 di tích), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (48 di tích xếp hạng) và tỉnh Lâm Đồng.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu để hệ thống hóa cơ sở lý luận; phương pháp so sánh đối chiếu để làm rõ sự khác biệt giữa các mô hình quản trị; phương pháp khảo sát, thống kê nhằm định lượng thực trạng phân bổ ngân sách, nhân sự và hiện trạng bảo tồn.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là nhằm bảo đảm tính khách quan, khoa học, cung cấp bức tranh toàn cảnh từ chính sách vĩ mô đến hoạt động thực thi vi mô tại cơ sở, bảo đảm dữ liệu có độ tin cậy cao phục vụ công tác quản lý công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu làm rõ bức tranh thực trạng quản lý nhà nước về di tích trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2017 - 2020 với các phát hiện cụ thể:

  • Cơ cấu phân bố hệ thống di tích: Tính đến năm 2020, toàn tỉnh đã kiểm kê gần 70 di tích, trong đó có 38 di tích được công nhận xếp hạng. Cơ cấu xếp hạng gồm 02 di tích quốc gia đặc biệt (chiếm 5,3% gồm Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh và Nhà đày Buôn Ma Thuột), 17 di tích cấp quốc gia (chiếm 44,7% như Đình Lạc Giao, Tháp Yang Prong, Đồn điền CADA, Hồ Lắk, Thác Dray Nur) và 19 di tích cấp tỉnh (chiếm 50,0%). Danh mục di tích tiềm năng còn hơn 30 địa điểm chưa được lập hồ sơ xếp hạng hoàn chỉnh.
  • Mức độ xuống cấp của các công trình: Khoảng 60% di tích lịch sử cách mạng và kiến trúc nghệ thuật đang trong tình trạng cần được tu bổ khẩn cấp do biến đổi khí hậu nhiệt đới ẩm cao nguyên với lượng mưa tập trung tới 90% vào mùa mưa. Nhiều địa điểm kháng chiến vùng sâu, vùng xa chưa được cắm mốc khoanh vùng bảo vệ đồng bộ.
  • Hạn chế về nguồn lực tài chính và xã hội hóa: Kinh phí ngân sách nhà nước cấp hàng năm cho công tác bảo quản, tu bổ di tích mới chỉ đáp ứng khoảng 20% đến 30% nhu cầu thực tế. Tỷ lệ huy động vốn xã hội hóa từ các tổ chức kinh tế và cộng đồng dân cư ngoài ngân sách còn rất khiêm tốn, chưa có cơ chế thu hút đầu tư rõ ràng.
  • Bất cập trong bộ máy và nhân sự quản lý: Đội ngũ công chức văn hóa - xã hội tại 15 huyện, thị xã, thành phố còn mỏng. Ở cấp xã, hầu hết cán bộ phụ trách lĩnh vực di sản đều là kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ hành chính khác nhau, dẫn đến công tác kiểm tra, giám sát vi phạm lấn chiếm đất đai di tích chưa kịp thời.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của các hạn chế trên xuất phát từ việc thiếu một quy hoạch tổng thể dài hạn về bảo tồn di tích gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Sự phối hợp liên ngành giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng chính quyền cấp huyện đôi lúc còn thiếu đồng bộ.

So sánh với các địa phương phát triển như thành phố Hà Nội và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đắk Lắk còn khoảng cách khá xa trong việc đa dạng hóa nguồn thu từ dịch vụ du lịch di sản và xây dựng hệ thống thuyết minh đa ngôn ngữ. Tỉnh Lâm Đồng đã sớm lồng ghép thành công chương trình giáo dục di sản vào trường học và đẩy mạnh hợp tác công - tư, trong khi Đắk Lắk chủ yếu vẫn khai thác du lịch tại một số danh lam thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng mà chưa kết nối tốt với các di tích lịch sử cách mạng hào hùng.

Để phục vụ công tác quản lý trực quan, các dữ liệu của nghiên cứu có thể được thiết lập thành biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu tỷ lệ xếp hạng di tích (5,3% di tích quốc gia đặc biệt, 44,7% di tích cấp quốc gia, 50,0% di tích cấp tỉnh) và bảng ma trận đánh giá hiện trạng mức độ xuống cấp, nguy cơ xâm lấn tại từng địa bàn hành chính, hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách phân bổ nguồn lực chính xác hơn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di tích trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất:

  • Hoàn thiện thể chế, quy hoạch và phân cấp quản lý: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì tham mưu UBND tỉnh ban hành "Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị hệ thống di tích tỉnh Đắk Lắk đến năm 2030". Mục tiêu đặt ra là hoàn thành việc cắm mốc giới, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 100% di tích đã xếp hạng trước năm 2025; xây dựng quy chế phối hợp phân định rõ trách nhiệm quản lý giữa cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
  • Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực chuyên môn: UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nội vụ phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng định kỳ nghiệp vụ quản lý di sản cho 100% công chức văn hóa cấp huyện và cấp xã trong giai đoạn 2023 - 2025. Nâng cao kỹ năng giám sát thi công tu bổ, bảo đảm giữ nguyên vẹn các yếu tố gốc của di tích.
  • Đa dạng hóa nguồn lực đầu tư và đẩy mạnh xã hội hóa: UBND tỉnh Đắk Lắk cần ban hành chính sách ưu đãi kêu gọi các doanh nghiệp, tổ chức xã hội tài trợ nguồn vốn trùng tu di tích, phấn đấu nâng tỷ trọng vốn huy động ngoài ngân sách đạt ít nhất 35% đến 40% tổng kinh phí đầu tư văn hóa vào năm 2025.
  • Ứng dụng khoa học công nghệ và liên kết phát triển du lịch: Bảo tàng Đắk Lắk chủ trì số hóa 100% dữ liệu hồ sơ khoa học, ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR), mô hình hóa 3D cho 38 di tích đã xếp hạng; xây dựng hệ thống mã QR tra cứu thông tin đa ngôn ngữ. Phối hợp với các công ty lữ hành xây dựng ít nhất 5 tour du lịch chuyên đề kết nối di tích lịch sử - văn hóa với Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và các danh lam thắng cảnh sinh thái trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa: Lãnh đạo và chuyên viên Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, Phòng Văn hóa - Thông tin của 15 đơn vị hành chính cấp huyện sử dụng luận văn làm tài liệu căn cứ để xây dựng quy hoạch, đề án bảo tồn, lập hồ sơ khoa học cho hơn 30 di tích tiềm năng.
  • Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Các viện nghiên cứu, trường đại học đào tạo chuyên ngành Quản lý công, Quản lý văn hóa, Lịch sử và Du lịch khai thác khung lý thuyết, phương pháp nghiên cứu thực chứng và hệ thống dữ liệu so sánh điển hình giữa các địa phương (Hà Nội, Lâm Đồng, Bà Rịa – Vũng Tàu).
  • Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch và lữ hành: Các đơn vị khai thác tour tuyến trong và ngoài tỉnh tìm kiếm giải pháp thiết kế sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc, kết nối 38 di tích đã xếp hạng với mạng lưới lễ hội truyền thống nhằm gia tăng trải nghiệm cho du khách.
  • Ban quản lý di tích và cộng đồng dân cư địa phương: Các tổ chức trực tiếp trông coi di tích, già làng, trưởng bản nâng cao nhận thức về phương pháp bảo vệ yếu tố gốc di tích, ngăn ngừa vi phạm xâm hại cảnh quan và chủ động tham gia vào các hoạt động phát huy giá trị di sản tại buôn làng.

Câu hỏi thường gặp

  • Quy mô hệ thống di tích tại tỉnh Đắk Lắk hiện nay được phân bố như thế nào? Theo số liệu thống kê của Bảo tàng Đắk Lắk, toàn tỉnh có gần 70 di tích được kiểm kê. Trong đó có 38 di tích đã được xếp hạng chính thức gồm 02 di tích quốc gia đặc biệt, 17 di tích quốc gia, 19 di tích cấp tỉnh và hơn 30 di tích tiềm năng có giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh tiêu biểu trải rộng trên 15 đơn vị hành chính.

  • Những hạn chế lớn nhất trong công tác quản lý di tích tại Đắk Lắk giai đoạn 2017 - 2020 là gì? Hạn chế trọng tâm bao gồm tình trạng xuống cấp của nhiều công trình di tích trước tác động thời tiết; nguồn kinh phí nhà nước cấp cho tu bổ chỉ đáp ứng từ 20% đến 30% nhu cầu; nguồn vốn xã hội hóa còn hạn hẹp; nhân sự quản lý di sản tại cấp huyện và cấp xã còn thiếu về biên chế chuyên trách và năng lực chuyên sâu.

  • Tỉnh Đắk Lắk có thể rút ra những kinh nghiệm quản lý quý giá nào từ các tỉnh, thành phố khác? Đắk Lắk có thể tham khảo Hà Nội trong việc hoàn thiện quy trình lập hồ sơ di tích và thanh tra nguồn vốn; học tập Bà Rịa – Vũng Tàu về bảo vệ hành lang cảnh quan và xây dựng hệ thống thuyết minh đa ngôn ngữ; học tập Lâm Đồng về việc đưa giáo dục di sản vào học đường và phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quốc tế.

  • Làm thế nào để cân bằng giữa bảo tồn yếu tố gốc và phát huy giá trị di tích phục vụ du lịch? Cần thực hiện nghiêm ngặt Luật Di sản văn hóa trong quá trình trùng tu, không để xảy ra tình trạng làm mới di tích sai lệch nguyên bản. Hoạt động khai thác du lịch phải trích lại một phần tỷ lệ doanh thu dịch vụ để tái đầu tư vào công tác tôn tạo, bảo vệ môi trường sinh thái xung quanh khu vực di tích.

  • Vì sao việc chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ lại mang tính đột phá cho di tích Đắk Lắk? Ứng dụng chuyển đổi số giúp số hóa 100% tư liệu hiện vật, mô hình hóa 3D không gian di tích, tạo mã QR thuyết minh tự động đa ngữ. Giải pháp này giúp khắc phục tình trạng thiếu hụt hướng dẫn viên trực tiếp, đưa hình ảnh di sản Đắk Lắk tiếp cận nhanh chóng đến đông đảo du khách trong nước và quốc tế trên không gian mạng.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc các vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di tích văn hóa vật thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý đối với 38 di tích đã xếp hạng và hơn 30 di tích tiềm năng tại 15 đơn vị hành chính của tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2017 - 2020, chỉ rõ những mặt tích cực và các điểm nghẽn về thể chế, nhân lực, tài chính.
  • Đúc kết 7 bài học kinh nghiệm có giá trị tham chiếu cao từ các địa phương tiêu biểu gồm Thủ đô Hà Nội, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và tỉnh Lâm Đồng để vận dụng phù hợp với điều kiện thực tế vùng cao nguyên.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, phân định rõ chủ thể thực hiện, lộ trình triển khai và mục tiêu đo lường cụ thể cho giai đoạn 2023 - 2025, định hướng đến năm 2030.
  • Khẳng định vai trò quyết định của việc đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực và ứng dụng công nghệ số hóa trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa 49 dân tộc, đưa du lịch di sản thành ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương.

Đóng góp chính của công trình nghiên cứu là cung cấp một tài liệu khoa học chuyên khảo toàn diện, vừa có giá trị học thuật trong ngành Quản lý công, vừa là cẩm nang thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý văn hóa tỉnh Đắk Lắk. Trong giai đoạn tiếp theo đến năm 2030, việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo bước đột phá trong công tác gìn giữ di sản. Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm hãy cùng nghiên cứu, ứng dụng những đề xuất của luận văn để chung tay bảo tồn và tỏa sáng những giá trị lịch sử - văn hóa vô giá của mảnh đất Đắk Lắk đại ngàn.