mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật đối với môi trƣờng của chính quyền cấp huyện. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật đối với môi trƣờng trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật đối với môi trƣờng trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội e 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI MÔI TRƢỜNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm chung 1. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật 1.
Quản lý là một khái niệm được xem xét ở hai góc độ - Dƣới góc độ chính trị xã hội, quản lý đƣợc hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lãnh đạo, vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp. Cơ chế quản lý phù hợp sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, ngƣợc lại, nó sẽ là một trở lực kìm hãm sự phát triển của xã hội. - Dƣới góc độ hành động, quản lý đƣợc hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành.Mác, quản lý, quản lý xã hội là chức năng đƣợc sinh ra do tinh chất xã hội hoá lao động.Mác, tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng.
Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu về quản lý. Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, quản lý đƣợc định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Quản lý là hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm định hƣớng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm ngƣời hay một cộng đồng ngƣời để đạt đƣợc các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất trong bối cảnh và các điều kiện nhất định. e 10 Cũng có quan điểm cho rằng, quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hƣớng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hƣớng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan.
Từ cơ sở lý luận đó, chúng ta có thể khái quát, quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Quản lý nhà nước Quản lý nhà nƣớc ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nƣớc và là sự quản lý của nhà nƣớc đối với xã hội và công dân. Quản lý nhà nƣớc gắn liền trực tiếp với hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy quyền lực nhà nƣớc, gắn liền với việc sử dụng quyền lực nhà nƣớc. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nƣớc là hoạt động của tổng thể bộ máy nhà nƣớc bao gồm toàn bộ các cơ quan nhà nƣớc trên các lĩnh vực pháp, hành pháp, tƣ pháp.
Nhƣ vậy, hiểu theo nghĩa rộng, nói đến quản lý nhà nƣớc là nói đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổng thể bộ máy nhà nƣớc với tƣ cách là một tổ chức quyền lực và mang tính pháp quyền, là tổ chức công thực hiện quyền quản lý toàn bộ xã hội bằng các hoạt động lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nƣớc là hoạt động của riêng hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc, bao gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân. Luận văn này nghiên cứu quản lý nhà nƣớc theo nghĩa rộng, cụ thể, quản lý nhà nước là hoạt động có tổ chức, có định hướng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bằng các công cụ và phương thức khác nhau, tác động lên tổ chức và mọi cá nhân công dân trong xã hội nhằm đảm bảo sự duy trì e 11 ổn định và phát triển xã hội. Quản lý nhà nước bằng pháp luật Hoạt động quản lý nhà nƣớc bao trùm trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội với mục tiêu nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và bảo vệ lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân công dân.
Quản lý nhà nƣớc luôn mang tính quyền lực nhà nƣớc, trong đó, nhà nƣớc sử dụng sức mạnh cƣỡng chế để buộc mọi tổ chức và cá nhân công dân trong phạm vi thẩm quyền phải tuân thủ những yêu cầu mà nhà nƣớc đặt ra. Trong hoạt động mang tính quyền lực nhà nƣớc, pháp luật là công cụ chủ yếu để quản lý xã hội theo định hƣớng nhà nƣớc đề ra. Tùy vào từng giai đoạn phát triển, tùy từng môi trƣờng, điều kiện khác nhau mà nhà nƣớc áp dụng các phƣơng thức quản lý khác nhau cho phù hợp. Tuy nhiên, pháp luật là công cụ không thể thiếu trong một nhà nƣớc pháp quyền.
Một nhà nƣớc chỉ thực sự hoạt động có hiệu quả khi có một hệ thống pháp luật đủ mạnh, có hiệu lực trên thực tế. Sự tuân thủ pháp luật sẽ là thƣớc đo phát triển của nhà nƣớc pháp quyền. Nhƣ vậy, có thể hiểu, quản lý nhà nước bằng pháp luật là hoạt động có tổ chức, có định hướng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sử dụng pháp luật làm công cụ để tác động đến mọi tổ chức, cá nhân công dân nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển xã hội. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật về môi trường 1.
Khái niệm môi trường Môi trƣờng là khái niệm có nội hàm vô cùng rộng. Do vậy khi bàn về môi trƣờng, có rất nhiều cách tiếp cận, cách hiểu khác nhau. Trong số đó, cách hiểu đƣợc đa số các nhà nghiên cứu quan tâm dựa trên hai khía cạnh sau: Thứ nhất, nếu tiếp cận môi trường trên cơ sở chức năng của nó thì có cách định nghĩa như sau: e 12 Trong quyển: "Môi trƣờng và tài nguyên Việt Nam" – Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, H., 1984, đã đƣa ra định nghĩa: "Môi trƣờng là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhƣng có thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kì hay một xã hội". Thứ hai, nếu tiếp cận môi trường trên cơ sở các cấu thành của nó thì cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau như sau: Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trƣờng đƣợc hiểu là "Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con ngƣời tạo ra xung quanh mình, trong đó con ngƣời sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của con ngƣời".
Cũng có những tác giả đƣa ra định nghĩa ngắn gọn hơn, chẳng hạn nhƣ R.Sharme (1988) đƣa ra một định nghĩa: "Môi trƣờng là tất cả những gì bao quanh con ngƣời". Có thể thấy tất cả các quan niệm nêu trên đều đúng, tuy nhiên có quan niệm môi trƣờng trong Luật Bảo vệ Môi trƣờng năm 2014 là tổng quát, dễ hiểu và đƣợc thừa nhận nhiều hơn cả. Trong đó, theo Khoản 1 Ðiều 3, Luật Bảo vệ Môi trƣờng năm 2014 định nghĩa: “Môi trƣờng bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con ngƣời, có ảnh hƣởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con ngƣời và thiên nhiên.” Từ khái niệm trên, có thể thấy: Môi trƣờng theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con ngƣời, nhƣ tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nƣớc, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Môi trƣờng theo nghĩa hẹp, khái niệm trên lấy con ngƣời là trung tâm, không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và e 13 xã hội trực tiếp liên quan tới chất lƣợng cuộc sống con ngƣời.
Đặc điểm của môi trường Môi trƣờng là hệ sinh thái hở hoàn chỉnh bao gồm ba thành phần: Thành phần sinh học; Thành phần phi sinh học; Thành phần điều kiện. Đƣợc mô phỏng trong sơ đồ 1. Thành phần phi sinh học Đất Nƣớc Không khí Đặc điểm môi trƣờng Mối quan hệ Sinh vật Sinh vật Sinh vật sản xuất tiêu thụ phân hủy Thành phần điều kiện Thành phần sinh học Sơ đồ 1. Đặc điểm của môi trƣờng Môi trƣờng gồm những nhân tố có thể chia thành 3 nhóm cơ bản: môi trƣờng sinh vật gồm các thành phần sinh học của môi trƣờng nhƣ động, thực vật, vi khuẩn, vi sinh vật… và những thành phần phi sinh học của môi trƣờng tự nhiên, bao gồm: nƣớc, đất, không khí, nhiệt độ… và những mối quan hệ e 14 trong thành phần điều kiện giữa con ngƣời với môi trƣờng và với các thành phần sinh học với phi sinh học.
Các điều kiện của môi trƣờng trong thành phần phi sinh học của hệ sinh thái nhƣ điều kiện vật lý (ánh sáng, nhiệt độ.) hay các điều kiện hóa học nhƣ thành phần các đơn chất, hợp chất của một số loại môi trƣờng, sinh vật học tạo nên đặc điểm đặc trƣng của môi trƣờng. Phân loại môi trường Hiện nay, có nhiều cách khác nhau để phân loại môi trƣờng. Với mỗi cách phân loại, môi trƣờng lại đƣợc phân thành những dạng khác nhau. Cụ thể nhƣ sau: - Phân loại theo nguồn hình thành: Môi trƣờng tự nhiên: bao gồm các yếu tố vật lý, hoá học và sinh học tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con ngƣời tác động ít nhiều đến con ngƣời.
Môi trƣờng đất, nƣớc, không khí, tài nguyên khoáng sản. Môi trƣờng xã hội: là tổng hoà các mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời tạo nên thuận lợi hoặc cản trở cho sự tồn tại và phát triển của con ngƣời, bai gồm hệ thống thông tin do con ngƣời tạo ra nhƣ thể chế, hệ thống pháp luật, văn bản dƣới luật, văn bản pháp lý. Môi trƣờng nhân tạo: là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội do con ngƣời tạo ra và chịu chi phối của con ngƣời nhằm phục vụ cho cuốc sống của con ngƣời nhƣ công sở, công viên, khu sinh thái, phƣờng tiện giao thông.