Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nguồn vốn ODA. Chương 2: Thực trạng quản lý nguồn vốn ODA tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (giai đoạn 2010-2015). Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn ODA ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong những năm tới. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) 1.
Bản chất của ODA và sự cần thiết phải tăng cƣờng quản lý 1.Các định nghĩa về ODA ODA là tên gọi tắt của ba chữ tiếng Anh: Official Development Assistance, có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức. Cho đến nay, chưa có định nghĩa hoàn chỉnh về ODA, nhưng sự khác biệt giữa các định nghĩa không nhiều. Có thể thấy điều này qua ý kiến của một số tổ chức và cá nhân dưới đây: OECD vào năm 1972 đã đưa ra khái niệm ODA là “một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”.
Theo UNDP: ODA là viện trợ không hoàn lại hoặc là cho vay ưu đãi của các tổ chức nước ngoài, với phần viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay. Còn ở Việt Nam, theo PGS. Nguyễn Quang Thái (Viện Chiến lược phát triển), thì ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi (về lãi suất thời gian ân hạn và trả nợ) của các cơ quan chính thức thuộc các nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO) [34]. Theo Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm theo Nghị định 38/2013/NĐ-CP ngày 23 - 4 - 2013 của Chính Phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì: “Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ” [23].
8 Như vậy, mặc dù có cách diễn đạt khác nhau, nhưng tất cả các cách định nghĩa nói trên đều chỉ rõ ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc (UN), các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển, nhằm mục đích giúp phát triển kinh tế - xã hội ở các nước này; trong đó, tính ưu đãi chiếm trên 25% giá trị của khoản vốn vay. ODA có đặc điểm là không cấp cho những chương trình dự án mang tính chất thương mại. Quá trình cung cấp ODA đem lại lợi ích cho cả hai phía: bên các nước đang và kém phát triển có thêm khối lượng lớn vốn đầu tư từ bên ngoài để đẩy nhanh tốc độ phát triển nền kinh tế còn nhỏ bé của mình. Phía viện trợ cũng đạt được những lợi ích trong các điều kiện bắt buộc kèm theo các khoản viện trợ cho vay, đồng thời gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các công ty nước mình khi thực hiện đầu tư tại các nước nhận viện trợ.
Mặt khác, viện trợ ODA mang tính nhân đạo, thể hiện nghĩa vụ đồng thời là sự quan tâm giúp đỡ của các nước giàu đối với các nước nghèo, tăng cường thúc đẩy mối quan hệ đối ngoại tốt đẹp giữa các quốc gia với nhau, giữa các tổ chức quốc tế với các quốc gia; qua đó, góp phần củng cố hình ảnh và làm tăng vị thế quốc tế của các nước và các tổ chức quốc tế tham gia viện trợ. Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần thu nhập quốc gia từ các nước phát triển sang các nước đang và chậm phát triển. Liên hiệp quốc, trong một phiên họp toàn thể của Đại hội đồng vào năm 1961 đã kêu gọi các nước phát triển dành 1% GNP của mình để hỗ trợ sự nghiệp phát triển bền vững về kinh tế và xã hội của các nước đang phát triển. Các hình thức ODA Về các hình thức ODA, người ta có thể dựa vào 3 cách phân loại: theo hình thức cấp, theo nguồn cung cấp và theo mục tiêu sử dụng.
Trước hết, phân loại theo hình thức cấp: có ODA không hoàn lại, ODA có hoàn lại và ODA hỗn hợp. 9 - Viện trợ không hoàn lại (ODA không hoàn lại) là viện trợ mà Nhà tài trợ cung cấp viện trợ để bên nhận viện trợ thực hiện các chương trình, dự án theo sự thỏa thuận giữa các bên. Bên nhận tài trợ sử dụng cấp phát lại hoặc cho doanh nghiệp vay lại theo nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 25% tổng số ODA toàn cầu và thường ưu tiên cho những chương trình, dự án thuộc các lĩnh vực: y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục - đào tạo; hoặc dành cho các vấn đề về xã hội: XĐGN, phát triển nông thôn và miền núi, cấp thoát nước sinh hoạt, nghiên cứu các chương trình - dự án phát triển và tăng cường thể chế bảo vệ môi trường môi sinh, quản lý đô thị; nghiên cứu phát triển khoa học và công nghệ; hỗ trợ ngân sách thực hiện các chương trình nghiên cứu tổng hợp, nhằm hỗ trợ Chính phủ nước nhận viện trợ hoạch định các chính sách hoặc cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư bằng hoạt động điều tra, giám sát, đánh giá tài nguyên, hiện trạng kinh tế kỹ thuật - xã hội các ngành, vùng, lãnh thổ.
Ngoài ra, ODA không hoàn lại còn hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất; trong một số trường hợp đặc biệt còn góp phần tạo việc làm, giải quyết các vấn đề về xã hội ở nước nhận viện trợ. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào quan hệ giữa nước nhận và nước cung cấp viện trợ, thường được cung cấp dưới các dạng: Hỗ trợ kỹ thuật, thực hiện các nghiên cứu phát triển, lập nghiên cứu khả thi, đánh giá tác động về môi trường, nghiên cứu thay đổi thể chế chính sách, đào tạo tăng cường năng lực quản lý, hỗ trợ ngành nghề, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng cơ bản. Các tổ chức tài trợ ODA không hoàn lại thực hiện thông qua việc thuê mướn chuyên gia về để đào tạo cho nước nhận ODA; viện trợ nhân đạo bằng hiện vật, mà các nước tiếp nhận ODA dưới hình thức hiện vật, như: lương thực, vải, thuốc chữa bệnh, vật tư, nguyên liệu. nhưng thông thường sẽ được tính với giá rất cao.
- Viện trợ có hoàn lại (ODA có hoàn lại - tín dụng ưu đãi) là hình thức Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền hoặc hàng hóa (bao gồm cả vật tư, nguyên nhiên liệu) tùy theo quy mô và mục đích đầu tư với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp, trong đó yếu tố không hoàn lại của khoản vay tối thiểu phải là 25%. Tín dụng ưu đãi chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng ODA thế giới và sử 10 dụng dưới hình thức tín dụng đầu tư cho những mục đích có khả năng thu hồi vốn gián tiếp bảo đảm hoàn trả nợ nước ngoài. ODA có hoàn lại được sử dụng ưu tiên đầu tư thực hiện các chương trình quốc gia, đặc biệt là các chương trình và dự án xây dựng hoặc cải tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật kinh tế - xã hội thuộc các lĩnh vực: năng lượng, giao thông vận tải, nông nghiệp, thủy lợi, thông tin liên lạc. để xây dựng nền tảng vững chắc cho việc ổn định và tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy đầu tư của thành phần kinh tế tư nhân trong nước và quốc tế.
Hình thức này cũng nhằm để giúp Chính phủ các nước tiếp nhận bù đắp thâm hụt trong cán cân thanh toán quốc tế, để có thể quản lý tốt hơn ngân sách trong giai đoạn cải cách hệ thống tài chính, chuyển đổi hệ thống kinh tế hoặc để XĐGN, tạo điều kiện thuận lợi cho nước nhận ODA phát triển mạnh hơn cả về sản xuất lẫn việc nâng cao đời sống kinh tế - xã hội, với nguyên tắc không trực tiếp làm tăng trưởng nền kinh tế của nước tiếp nhận. - ODA hỗn hợp là các khoản ODA kết hợp một phần không hoàn lại và có hoàn lại theo các điều kiện của OECD. Những yếu tố không hoàn lại phải đạt không dưới 25% của tổng giá trị các khoản đó; hoặc có thể kết hợp một phần không hoàn lại, một phần ưu đãi và một phần tín dụng thương mại. Hai là, phân loại theo nguồn cung cấp: có ODA song phương và ODA đa phương.
ODA song phương là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước phát triển viện trợ cho nước đang và kém phát triển, thông qua hiệp định được ký kết giữa hai chính phủ. ODA đa phương là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc tế, hay tổ chức khu vực hoặc của chính phủ một nước viện trợ dành cho chính phủ một nước nhận viện trợ nào đó, nhưng có thể được thực hiện thông qua các tổ chức đa phương như UNDP… Cũng có thể đó là các khoản viện trợ của các tổ chức tài chính quốc tế được chuyển trực tiếp cho bên nhận viện trợ. Ba là, phân loại theo mục tiêu sử dụng: có hỗ trợ cán cân thanh toán, tín dụng thương nghiệp, viện trợ chương trình, viện trợ dự án. 11 Hỗ trợ cán cân thanh toán là các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ ngân sách của chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng: chuyển giao tiền tệ trực tiếp cho nước nhận ODA và Hỗ trợ nhập khẩu (viện trợ hàng hoá).
Tín dụng thương nghiệp tương tự như viện trợ hàng hoá, nhưng có kèm theo các điều kiện ràng buộc. Chẳng hạn nước cung cấp ODA yêu cầu nước nhận ODA phải dùng phần lớn, hoặc hầu hết vốn viện trợ để mua hàng của nước cung cấp ODA. Viện trợ chương trình là nước viện trợ và nước nhận viện trợ ký hiệp định cho một mục đích tổng quát mà không cần xác định chính xác khoản viện trợ sẽ được sử dụng như thế nào. Viện trợ dự án là hình thức thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện ODA.