Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VAN DE VE TAI CƠ CẤU CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhà nước và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước 1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước 1. Doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước: Là t6 chức kinh té do Nha nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tô chức đưới hình thức công ty nhà nước, công ty cô phan, công ty trách nhiệm hữu han, có tài sản, có trụ sở giao dịch ôn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Theo Luật doanh nghiệp được Quốc hội thông qua năm 2005 doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Tái cơ cấu là: Việc xem xét và câu trúc lại một phần, một số phan hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị nào đó, ma thường là một công ty. Ngoài việc tổ chức cho một công ty về các mảng chức năng (như là sản xuất, kế toán, tiếp thị, v.) và xem xét các nhiệm vụ mà mỗi chức năng thực hiện, theo lý thuyết tái cơ cau, chúng ta còn phải chú ý tới các quy trình hoàn thiện từ khâu tìm kiếm các nguyên liệu, cho tới các khâu sản xuất, tiếp thị và phân phối. Trong điều kiện hội nhập hiện nay, thì việc tái cơ cấu đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi tư duy quản lý, cải cách công tác quản lý, tái cau trúc lại các quá trình kinh doanh, trên cơ sở đó định hình mô hình và cơ cấu tô chức phù hợp với điều kiện và định hướng kinh doanh của doanh nghiệp.
Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước là quá trình tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp nhằm tạo ra “trạng thai” tốt hơn cho doanh nghiệp dé thực hiện những mục tiêu đề ra. Mục tiêu chung của tái cau trúc là đạt được một “thé trạng tốt hơn” cho doanh nghiệp dé doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn dựa trên những nên tảng về sứ mệnh, tầm nhìn, định hướng chiến lược sẵn có của doanh nghiệp. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, tái cấu trúc có thể chỉ nhăm mục tiêu đạt được sự “cải thiện vận hành” ở một mảng nào đó trong tô chức, doanh nghiệp. Một chương trình tái câu trúc toàn diện sẽ bao trùm hau hết các lĩnh vực như cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, cơ chế quản lý, điều hành; các hoạt động và các quá trình; các nguồn lực khác của doanh nghiệp.
Tái cấu trúc cũng có thé được triển khai “cục bộ” tại một hay nhiều mảng của doanh nghiệp (tài chính, nhân sự, bán hàng, sản xuất.) nhằm đạt mục tiêu là nâng cao “thé trạng” cua bộ phận đó. Đặc điểm của doanh nhiệp nhà nước 1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước thành lập: Điều này thê hiện ở chỗ tất cả các DNNN đều do cơ quan nhà nước có tham quyền trực tiếp kí quyết định thành lập khi thấy việc thành lập doanh nghiệp là cần thiết. Các loại hình doanh nghiệp khác không phải do Nhà nước trực tiếp thành lập mà chỉ cho phép thành lập trên cơ sở xin thành lập của người hoặc những người muốn thành lập doanh nghiệp.
Tai san trong doanh nghiệp là một bộ phận tải sản cua nhà nước: DNNN do Nhà nước đầu tư vốn nên nó thuộc sở hữu của Nhà nước. Sau khi được thành lập, DNNN là chủ thé kinh doanh nhưng chủ thé kinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản mà chỉ là người quản lí và kinh doanh trên cơ sở sở hữu của Nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn được Nhà nước giao để duy trì khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. DNNN là đối tượng quản lí trực tiếp của Nhà nước: DNNN do Nhà nước đầu tư vốn đề thành lập cho nên bản thân doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước.
DNNN là cơ sở kinh tế của Nhà nước, do đó, Nhà nước phải quan tâm đến DNNN. DNNN thực hiện mục tiêu nhà nước giao: Là doanh nghiệp thuộc sở hữu cua Nhà nước, DNNN phải thực hiện mục tiêu ma Nhà nước giao. Đối với DNNN hoạt động kinh doanh thì DNNN đó phải kinh doanh có hiệu quả, nếu đó là doanh nghiệp công ích thì hoạt động của nó phải đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội. Nhà nước bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp, bảo đảm sự bình dang trước pháp luật của các DNNN.
Phân loại doanh nghiệp nhà nước Theo quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17 tháng 7 năm 2012 về phê duyệt đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tông công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015, thì doanh nghiệp nhà nước được phân thành các nhóm như sau: Nhóm 1: Doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ trong các lĩnh vực độc quyền nhà nước, quốc phòng, an ninh; xuất bản; thuỷ nông: bảo đảm an toàn giao thông: x6 số kiến thiết; sản xuất, phân phối điện quy mô lớn đa mục tiêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh; quản lý, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đô thị; các cảng hàng không; cảng biển loại I; in, đúc tiền. Nhóm 2: Doanh nghiệp cô phần hóa mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, cụ thể: Nhà nước nắm giữ trên 75% vốn điều lệ khi cô phần hóa các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, hoạt động trong các lĩnh vực khai thác, chế biến tài nguyên, khoáng sản; cung cấp hạ tầng mạng thông tin truyền thông; Loại nhà nước năm giữ từ 65% đến 75% vốn điều lệ khi cổ phần hóa các doanh nghiệp quy mô lớn, hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất hóa chất cơ bản, phân hóa học, bán buôn lương thực, bán buôn thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, vệ sinh môi trường, chiếu sáng ở đô thị lớn, sản xuất, lưu giữ giỗng gốc cây trồng vật nuôi; sản xuất vắcxin phòng bệnh; quản lý, bảo trì hệ thống đường bộ, đường thủy nội địa, quản lý, khai thác cảng biển, sản xuất điện quy mô lớn, vận tải đường sắt, hàng không. Ngoài các doanh nghiệp nêu trên, các doanh nghiệp khác khi cổ phan hóa, nhà nước nắm giữ từ trên 50% đến dudi 65% vốn điều lệ hoặc không giữ cổ phan. Thực trạng của doanh nhiệp nhà nước 1.
Quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp nhà nước DNNN của Việt Nam được hình thành trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, trong công cuộc đổi mới, cùng với sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, hệ thong DNNN vừa được phat trién, mo rộng, vừa được sắp xếp, cơ cau lại và từng bước chuyên sang hoạt động theo cơ chế thị trường. Việt Nam từ sau giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước đến năm 1990, DNNN được tô chức dưới hình thức các tổng công ty, các liên hiệp các xí nghiệp và các DNNN độc lập. Tính đến cuối những năm 1980, số lượng DNNN lên tới hon 12. Giai đoạn 1991 - 1994, thực hiện Nghị định số 388-HDBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã tiễn hành tô chức, sắp xếp lại DNNN theo hướng kiểm kê toàn bộ DNNN, đồng thời phân tích đánh giá tình hình hoạt động của DNNN, những doanh nghiệp nào đủ tiêu chuẩn tiếp tục tồn tại là DNNN.
Trên cơ sở tô chức, sắp xếp lại hơn 250 tổng công ty, các liên hiệp xí nghiệp và các DNNN độc lập, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 90/TTg ngày 7/3/1994 về việc tiếp tục sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước và Quyết định số 91/TTg ngày 7/3/1994 về thí điểm 10 thành lập tập đoàn kinh doanh. Theo đó, có 17 tổng công ty được thành lập theo Quyết định số 91/TTg ngày 7/3/1994 và 76 tổng công ty Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền cho các Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thành lập và quản lý theo Quyết định số 90/TTg ngày 7/3/1994. Sự ra đời của các tổng công ty 91 bước đầu đã huy động được nhiều nguồn lực, đây nhanh quá trình tích tụ, tập trung mở rộng quy mô, đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ và nâng cao khả năng cạnh tranh. Thông qua quá trình sắp xếp, tổ chức lại DNNN nêu trên, tính đến thời điểm đầu năm 2000 số lượng DNNN từ hơn 12.000 giảm xuống còn khoảng 6.
Như vậy, qua 3 đợt sắp xếp, DNNN đã giảm được hơn 50% số đầu mối. Tuy đã giảm nhiều về số lượng nhưng quy mô của DNNN nhỏ và dàn trải. Tổng vốn nhà nước tính đến hết năm 1999 khoảng 106.000 tỷ đồng, bình quân một doanh nghiệp là 18 tỷ đồng. Tuy nhiên, nếu tính về đóng góp và phát triển, thì DNNN vẫn phát triển ôn định, làm ra 40,2% GDP, trên 50% giá trị xuất khâu, đóng góp 39,25% tông số nộp ngân sách nhà nước.
Việc sắp xếp lại các DNNN đã góp phần thay đổi một bước cơ cấu ngành, vùng, vốn và lao động, tác động nhất định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với DNNN. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN, trong đó, mục tiêu 5 năm 2001-2005 là hoàn thành cơ bản việc sắp xếp, điều chỉnh cơ cầu DNNN hiện có theo hướng: Cô phần hoá doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn; sáp nhập, giải thé, phá sản những doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả; giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, không cổ phần hoá được và Nhà nước không cần nắm giữ. Thực hiện chế độ công ty trách nhiệm hữu hạn đối với doanh nghiệp Nhà nước giữ 100% vốn. Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt II động của các tông công ty nhà nước; xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh.
Đầu tư phát triển và thành lập mới doanh nghiệp nhà nước cần thiết và có đủ điều kiện ở những ngành, lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng. Năm 2001, số lượng từ 5.655 doanh nghiệp sau khi sắp xếp, tô chức lại đến cuối năm 2005 giảm xuống còn khoảng 2. Năm 2005, vốn nhà nước là 298.174 tỷ đồng, bình quân vốn nhà nước trong một doanh nghiệp là 105 tỷ đồng, tổng tài sản là 740.000 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 63. Tuy nhiên lợi nhuận chủ yếu tập trung ở các ngành có lợi thế như: Dầu khí, bưu chính viễn thông.