CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KTXH TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG 1. Quan niệm về quy hoạch và quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh, thành phố 1. Quan niệm về quy hoạch a) Quan niệm quy hoạch trên thế giới Theo Margaret Roerts, Quy hoạch là tiến hành lựa chọn trong số những phương án cái nào tỏ ra rộng mở vào tương lai, rồi tìm cách bảo đảm cho sự thực hiện đó, điều đó lệ thuộc vào sự cung ứng các nguồn lực cần thiết… Vì rằng quy hoạch là quá trình ra quyết định và là hoạt động cung ứng nguồn lực cho nên quy hoạch mang tính chính trị, trong đó các phương án lựa chọn sẽ không mang lại lợi ích đồng đều và như nhau đối với tất cả các thành viên của xã hội… Theo Mr. Peter Hall, GS.
Đại học Tổng hợp London, Chủ tịch Hiêp hội Đô thị và Nông thôn Vương quốc Anh (1992): Quy hoạch như một hoạt động chung, bao gồm việc tạo ra một chuỗi hành động có trình tự, dẫn đến việc đạt một hay nhiều mục tiêu đề ra. Các phương tiện thực hiện chính sẽ là các thuyết minh được hỗ trợ một cách thích hợp bởi các dự báo thống kê, các quan hệ toán học, các đánh giá định lượng và các sơ đồ minh họa mối quan hệ giữa các thành tố khác nhau của bản quy hoạch.Các bản quy hoạch có thể bao gồm hoặc không bao gồm các phác thảo vật thể chính xác của các công trình. Theo tài liệu Tổng quan về quy hoạch của Tổ chức Liên minh Thế giới có sự tham gia công dân: Quy hoạch là một tiến trình thực hiện có tính hệ thống đưa ra các nhu cầu, tìm ra con đường tốt nhất để đạt được nhu cầu đó, trong một khung chiến lược cho phép bạn xác định những ưu tiên, nguyên lý vận hành. Quy hoạch chính là nghĩ về tương lai để biết bạn có thể làm gì về nó bây giờ.
Điều đó không nhất thiết là tất cả mọi thứ sẽ phải theo đúng kế hoạch, nó cũng có thể không. Nếu bạn có một kế hoạch đàng hoàng, có khả năng điều chỉnh nó, mà không cần phải thỏa hiệp với mục tiêu chung, thì chắc chắn sẽ tốt hơn. Cũng theo tài liệu Tổng quan về quy hoạch của Tổ chức Liên minh Thế giới 5 có sự tham gia công dân, khái niệm quy hoạch được định nghĩa là sự kết hợp của khung chiến lược tốt (đạt được thông qua quy hoạch chiến lược) và kế hoạch thực hiện tốt hay kế hoạch hành động tốt, gồm: Cung cấp sự hiểu biết rõ ràng điều gì bạn cần làm để đạt được mục tiêu phát triển; hướng dẫn bạn về các ưu tiên và đưa ra quyết định; cho phép bạn trọng tâm vào nguồn lực hạn hẹp có thể trong các hoạt động mang lại lợi ích lớn nhất; giữ bạn trong bối cảnh chung toàn cầu, quốc gia, khu vực cụ thể; cung cấp bộ công cụ giúp bạn hợp tác (communicate) mong muốn của bạn với người khác; cung cấp hướng dẫn tốt để thực hiện hàng ngày. Trong tài liệu tiếng Nga của Wikipedia (từ điển bách khoa toàn thư mở): Quy hoạch được hiểu là sự phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu để đạt đươc các mục tiêu đặt ra, bao gồm toàn bộ những hoạt động (gồm nhiều quá trình) gắn với các mục tiêu (nhiệm vụ) đó cũng như cách thức thực hiện chúng trong tương lai.
Dưới góc độ toán học, quy hoạch có thể coi là một hàm số toán học, trong đó thời gian là một trong những nhân tố quan trọng. Như vậy, tổng quát hoạt động quy hoạch bao gồm các bước sau: (1) Đặt ra các mục tiêu và nhiệm vụ; (2) Xây dựng các chương trình (kế hoạch) hành động; (3) Thiết kế và xem xét các phương án kế hoạch khác nhau; (4) Xác định các nguồn lực cần thiết và các nguồn huy động; (5) Xác định những người có trách nhiệm thi hành cụ thể; (6) Đưa ra các mục tiêu đặt ra dưới dạng hình thức cụ thể (ví dụ như các văn bản đề án, dự án hay các quyết định). Trong tài liệu tổng quan quy hoạch các nước châu Âu của Pháp: Khái niệm “quy hoạch” được sử dụng rộng rãi tại các nước, tuy nhiên về sau họ chuyển sang “quy hoạch chiến lược”. Dựa vào ý chí quyền lực công, hình thức quy hoạch được so sánh với một hệ thống liên tục, kế tiếp của Giovanni Astengo đưa ra (1992).Hệ thống này được thiết lập dựa trên sự tồn tại của các thứ bậc trật tự trên dưới giữa các cấp bậc khác nhau tại một vùng và trong các cơ quan cấp cao hơn (nhà nước và địa phương) thực hiện quyền giám hộ và kiểm soát các cấp thấp hơn.
Chính các yếu tố thứ bậc này tạo ra một chu trình tuyến tính của việc quy hoạch, thể hiện bằng các bước nối tiếp như: nghiên cứu tiền khả thi và phân tích nguồn lực, xác định mục 6 tiêu và định hướng, định vị không gian và các chương trình, hình thành các dự án, cùng thực hiện. b) Quan niệm quy hoạch trong nước Theo PGS. TS Trần Trọng Hanh trình bày trong báo cáo “ Gải pháp cho các tiếp cận tổng hợp quy hoạch vùng ở Việt Nam” tại Hội thảo “Đổi mới công tác quy hoạch vùng ở Việt Nam” thì “Quy hoạch là sự trù tính cách thức, đường lối trước khi làm”. Trong tập bài giảng Quy hoạch phát triển của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, TS.
Nguyễn Tiến Dũng lại cho rằng “Quy hoạch phát triển là một hoạt động nhằm cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và các vùng lãnh thổ nhằm xác định một cơ cấu ngành không gian xã hội của quá trình tái sản xuất xã hội thông qua việc xác định cơ sở sản xuất phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống nhằm không ngừng nâng cao mức sống dân cư, hợp lý hóa lãnh thổ và phát triển kinh tế bền vững”. Giáo trình Quản lý học của Trường Đại học Kinh tế quốc dân định nghĩa: Quy hoạch (Planning) thể hiện tầm nhìn, sự bố trí chiến lược theo không gian và thời gian nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả cao và phát triển bền vững. TS Hoàng Sỹ Động, “Quy hoạch là lộ trình của các hoạt động chính để đạt được mục tiêu rõ ràng, chú trọng tổ chức không gian treencow sở khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế tại một phạm vi không gian nhất định và theo thời gian xác định”. Và theo đó, khái niệm quy hoạch có nội hàm cơ bản như sau: - Thứ nhất: Quy hoạch là môn khoa học, dựa trên cơ sở của nhiều môn khoa học khác và mang tính sáng tạo về phương pháp tiếp cận, bộ công cụ… và mục tiêu, kịch bản, phương hướng phát triển, giải pháp thực hiện trên không gian xác định và theo thời gian, chú trọng tương lai gần, đặt trong xu thế phát triển chung.
- Thứ hai: Quy hoạch là một lộ trình của các hoạt động logic nhằm đạt được mục tiêu rõ ràng, chú trọng tổ chức không gian trên cơ sở phân tích, đánh giá các nguồn lực, điều kiện, đặt trong xu thế phát triển bằng bộ công cụ hợp lý nhằm khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế tại một phạm vi không gian nhất định và theo thời 7 gian xác định. - Thứ ba: Quy hoạch là lộ trình của các hoạt động chính để đạt được mục tiêu rõ ràng, chú trọng tổ chức không gian trên cơ sở khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế tại một phạm vi không gian nhất định và theo thời gian xác định.1: Biểu thị nội hàm khái niệm quy hoạch Không gian quy hoạch Thông tin Phương án, cơ bản mục tiêu… (Phân tích, đánh giá) Bộ công cụ (Dự báo, lựa chọn) Xu thế Phương hướng, phát triển giải pháp Thời gian quy hoạch Nguồn: “Quy hoạch từ lý thuyết đến thực tiễnở nước chuyển đổi mô hình phát triển” – PGS. TS Hoàng Sỹ Động, 2012 Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư định nghĩa: Quy hoạch là việc lựa chọn phương án phát triển và tổ chức không gian KTXH cho thời gian dài hạn trên lãnh thổ xác định. Theo Luật Quy hoạch, Quy hoạch là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho thời kỳ xác định.
Quan niệm về quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh, thành phố a. Quan niệm về QH tổng thể phát triển KTXH TS Phạm Sỹ Liêm: Quy hoạch tổng thể là quá trình tổ chức kết nối không 8 gian cho việc định cư và các hoạt động kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, an toàn công cộng, quốc phòng, dựa trên các chính sách và chiến lược phát triển quốc gia và các ngành, nhằm mục tiêu cho phát triển có trật tự, hiệu quả, công bằng và bền vững trong dài hạn trên phạm vi lãnh thổ nhất định. TS Ngô Doãn Vịnh: Quy hoạch phát triển tổng thể là việc luận chứng phát triển và tổ chức lãnh thổ các hoạt động kinh tế, xã hội, môi trường hợp lý để thực hiện mục tiêu phát triển quốc gia (hoạc mục tiêu phát triển của vùng lớn, của tỉnh, của huyện) trong tầm dài hạn (vài chục năm trở lên) trên cơ sở phát huy hiệu quả các tiềm năng, lợi thế, các nguồn lực, các cơ hội và giảm thiểu các nguy cơ, thách thức. TS Nguyễn Bá Ân: Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH được định nghĩa là dự báo phát triển và tổ chức không gian các đối tượng kinh tế, xã hội và môi trường cho thời kỳ dài hạn trên lãnh thổ xác định, có tính tới các điều kiện của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư định nghĩa: QH tổng thể phát triển KTXH là việc luận chứng phát triển KTXH và tổ chức không gian các hoạt động kinh tế, xã hội hợp lý (hay bố trí hợp lý kinh tế, xã hội) theo lãnh thổ để thực hiện mục tiêu chiến lược KTXH quốc gia. QH tổng thể phát triển KTXH là bước cụ thể hóa của chiến lược phát triển KTXH quốc gia theo các điều kiện và đặc điểm của từng lãnh thổ. Nghị định 92 và Nghị định 04: Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, là luận chứng phát triển KT-XH và tổ chức không gian KT-XH hợp lý trên lãnh thổ quốc gia trong một thời gian xác định.2: Hệ thống Quy hoạch theo Nghị định 92/2006/NĐ-CP và Nghị định 04/2008/NĐ-CP Sơ đồ 0.