CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VE DAU TU CONG 1. DAU TU' CONG VA QUAN LY NHA NUGOC VE DAU TU’ CONG DOI VOI CAC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1. Đầu tư công và đầu tư công các công trình thủy lợi a. Khái niệm đầu tư công Đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực (có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ) trong một khoảng thời gian xác định nhằm đạt được kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện KTXH nhất định.
Kết quả đạt được của hoạt động đầu tư có thể có những kết quả trực tiếp và có những kết quả gián tiếp. Lợi ích do các kết quả đầu tư mang lại có thể là lợi ích trực tiếp cho chủ đầu tư, tuy nhiên cũng có thể là các lợi ích gián tiếp cho toàn bộ nền kinh tế và toàn xã hội [24, tr.5] “ĐTC là việc sử dụng vốn Nhà nước (bao gồm cả vốn NSNN, vốn tín dụng của nhà nước cho đầu tư và vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước) để đầu tư vào các chương trình, dự án không vì mục tiêu lợi nhuận và (hoặc) không. có khả năng hoàn vốn trực tiếp”. Ngoài ra, Luật Đầu tư công năm 2014 giải thích: “ĐTC là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phat trién KTXH” [9], (24, tr.
DTC nham muc tiéu tao mới, nâng cấp, củng có năng lực hoạt động của nên kinh tế thông qua gia tăng giá trị các tài sản công. Hoạt động ĐTC bao gồm toàn bộ quá trình từ lập, phê duyệt kế hoạch, chương trình, dự án ĐTC; đến triển khai thực hiện đầu tư và quản lý khai thác, sử dụng các dự án ĐTC, đánh giá sau ĐTC. Thông qua hoạt động ĐTC, năng lực phục vụ của hệ thống hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội dưới hình thức sở hữu toàn dân sẽ được cải thiện 13 và gia tăng [24, tr. Dự án ĐTC là DAĐT sử dụng vốn nhà nước đề thực hiện các mục tiêu phát triển KTXH không có khả năng hoàn vốn trực tiếp.
Các dự an DTC bao gồm: dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc. phòng, an ninh; các DAĐT không có điều kiện xã hội hóa thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, đảo tao.; dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tô chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản có định bằng vén su nj các DAĐT của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước theo quy định của pháp luật [24, tr. - Theo Luat Dau tu công năm 2014, dự án ĐTC được phân loại như sau: *(1) Căn cứ tính chất, dự án DTC được phân loại thành: dự án có cấu phần xây dựng và dự án không có cấu phần xây dựng; (2) Căn cứ mức độ quan trọng và quy mô, dự án ĐTC được phân loại thành: dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm c’ 9). Ngoài ra, theo Luật Đầu tư công năm 2014 quy định HĐND tỉnh quyết định tiêu chí dự án ĐTC trọng điểm nhóm C phù hợp với mục tiêu, định hướng.
phát triển, khả năng tài chính và đặc điểm cụ thể của địa phương. Việc phân chia các nhóm dự án nhằm mục đích phân cấp trong quản lý hoạt động ĐTC. Đâu tư công các công trình thủy lợi Luật Thủy lợi năm 2017 giải thích: “CTTL là công trình hạ tằng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi" [13]. 14 - Vai trò của các CTTL: Thứ nhất, góp phần quan trọng trong việc tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, làm tăng diện tích, tăng vụ, tăng năng suất, sản lượng cây trồng.
Thứ hai, cung cấp nước thô cho các nhà máy nước sản xuất nước sạch dé cấp nước cho các khu dân cư, đô thị góp phần đảm bảo nguồn nước sinh hoạt cho người dân. Ngoài ra, còn đóng vai trò phục vụ tích cực, có hiệu quả cấp thoát nước cho nuôi trồng thủy sản. Thứ ba, thu hút các dự án phát triển du lịch, cải thiện môi trường sinh thái và góp phần phát triển nông thôn toàn diện. Thứ tư, góp phần hạn chế ngập úng đắt sản xuất nông nghiệp, giảm ngập.
lụt vùng hạ du trong mùa mưa lũ, đồng thời điều tiết, bổ sung nước đề chống, hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa cạn. Qua tổng hợp các khái niệm về ĐTC và CTTL, căn cứ vào mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, tác giả tiếp cận: ĐTC các CTTL là hoạt động đâu tư sử dung nguôn vốn NSNN để thực hiện các dự án ĐTXD công trinh ha tang kỳ thuật thủy lợi phục vụ phát triển KTXH. - Đặc điểm ĐTC các CTTL: ĐTC vào các chương trình, dự án xây dựng kết cầu hạ tầng KTXH góp. phần tạo đòn bẩy đối với một số ngành, đồng thời giải quyết các vấn đề về xã hội, văn hóa, môi trường.
Do đó, đặc điểm ĐTC các CTTL cũng mang những đặc điểm của ĐTC, cụ thể: Thứ nhất, ĐTC các CTTL luôn gắn với chủ thê là Nhà nước Theo Luật Đầu tư công năm 2014, “Nhà nước quản lý hoạt động ĐTC bao gồm: lập, thâm định, quyết định chủ trương đầu tư; lập, thâm định, quyết định chương trình, dự án ĐTC; lập, thẩm định, phê duyệt, giao, triển khai thực hiện kế hoạch ĐTC; quản lý, sử dụng vốn ĐTC; theo dõi và đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án ĐTC” [9]. Các hoạt động ĐTC nêu 15 trên được thực hiện bởi cơ quan QLNN vé DTC va co quan chuyén mén quản ly DTC. Do d6, ĐTC luôn gắn với chủ thể là Nhà nước. Thứ hai, ĐTC các CTTL của NSNN là chỉ cho tích lũy ĐTC các CTTL cũng trực tiếp làm tăng số lượng, chất lượng tài sản cố.
định, làm tăng giá trị của tài sản cho nền kinh tế quốc dân, tạo nền tảng thúc đây sự phát triển trước hết cho nông nghiệp, nông thôn, của các thành phần kinh tế, thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Thứ ba, ĐTC các CTTL thường cần rất lớn lượng vốn đầu tư, vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn. thành và đưa vào sử dụng có thời gian kéo dài, nhất là các công trình hồ chứa, đập thủy lợi.
“Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư cần tiền hành phân kỳ đầu tư, bố trí von và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ, kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ dong vốn ĐTXD cơ bản” [24, tr.23] Bên cạnh đó, do thời gian đầu tư xây dựng thường kéo dài nên quá trình thực hiện đầu tư phải chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố tự nhiên như thời tiết, khí hậu, có thể làm giảm chất lượng công trình và làm tăng chỉ phí về vật tư do tăng giá cả nguyên vật liệu. Thứ tư, ĐTC các CTTL gắn chặt giữa chỉ đầu tư phát triển và chỉ thường xuyên từ NSNN nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư. ĐTC sử dụng NSNN từ nguồn kinh phí chỉ đầu tư phát triễ: lầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KTXH nhằm thực hiện mục tiêu ổn định, thúc đầy tăng. trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Các công trình, dự án sau khi hoàn thành được Nhà nước giao cho các đối tượng quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật. Để duy trì tình trang ky thuật của tài sản, bảo đảm hoạt động bình thường 16 và an toàn khi sử dụng, khai thác cần phải sử dụng NSNN từ nguồn kinh phí chỉ thường xuyên để bảo trì công trình, dự án. Do đó, sự gắn kết giữa chi dau tư phát triển và chỉ thường xuyên từ NSNN gop phan lam cho việc đầu tư, quản lý, sử dụng các công trình, dự án có hiệu quả. Thứ năm, quy mô và cơ cấu chỉ ĐTC cho các CTTL của NSNN không.
cố định và phụ thuộc vào chiến lược phát triển KTXH của Nhà nước trong từng. Trong thời kỳ đầu thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghỉ nông thôn quy mô chỉ ĐTC cho xây dựng các CTTL của NSNN thường chiếm ở mức cao để tạo dựng cơ sở hạ tầng phát triển nông nghiệp, chuyển nông nghiệp nhỏ thành sản xuất quy mô lớn, tập trung. Giai đoạn sau, quy mô chỉ ĐTC của Nhà nước cho CTTL sẽ giảm dần khi đã tạo được về cơ bản điều kiện hạ tầng cần thiết cho lĩnh vực thủy lợi. Thứ sáu, ĐTC các CTTL phần lớn là đầu tư có tính chất lâu dài, độ rủi ro cao do địa bàn thi công có thẻ trải rộng về không gian, có liên quan đến nhiều chủ thẻ khác nhau, khiến cho quá trình quản lý khá phức tạp.
- Vai trò ĐTC các CTTL: Thứ m tác động đến khu vực nông nghiệp, nông thôn: các dự án ĐTC CTTL góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng thủy lợi, đảm bảo nguồn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp sẽ mang tính chất quyết định, tạo tiền đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo bước đột phá thúc đây phát triển ngành nông nghiệp và tăng trưởng KTXH. Thứ hai, tác động đến các ngành nghề, lĩnh vực khác: các dự án ĐTC CTTL góp phần làm tăng diện tích, tăng vụ, tăng năng suất sản lượng cây trồng, do đó tăng nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp, đặc biệt là công. nghiệp chế biến phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nâng cao khả năng. cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp, góp phần tăng thu nhập cho người dân khu vực nông thôn.
Quản lý nhà nước về đầu tư công đối với các công trình thủy lợi +. Khái niệm quản lý nhà nước về đầu tư công đối với các CTTL “Quản lý theo nghĩa chung là sự tác động có mục đích của chủ thể vào. các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra” [21]. ĐTC là hoạt động có tính liên ngành, do đó quản lý hoạt động ĐTC là yêu cầu khách quan nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư.