CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT VIỆC LAM CHO LAO DONG NONG THON 1. KHÁI QUÁT CHUNG VE CONG TAC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VE HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm cơ bản a. Khái niệm về lao động Có nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau về khái niệm lao động.
Suy cho cùng, lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với các loài động vật khác. Bởi vì khác với các loài động vật, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào giới tự nhiên, nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người.Mác: “Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không. phụ thuộc vào bắt kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người” [10]. Ăng ghen khẳng định rằng: “Lao động là nguồn gốc của mọi của cải, lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải.
Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [10]. Khái niệm về việc làm Theo giáo trình Quản lý hành chính nhà nước: “Việc làm là cơ sở vật 11 chat để huy động nguồn nhân lực vào hoạt động sản xuất trong nền kinh tế quốc dân và việc làm là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tức là những điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó” [9. Theo tổ chức Lao động quốc (ILO): *Việc làm là những hoạt động lao động được trả bằng tiền mặt và bằng hiện vật. Theo khái niệm này có thẻ hiểu rằng: việc làm là một dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cắm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thu nhập cho bản thân, người thân, gia đình hoặc cộng đồng”"[10] Theo điều 9, Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cắm, Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”.[12] Từ những quy định trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về việc làm.
như sau: “Việc làm là những hoạt động lao động trong tat cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cắm”. Khái niệm quản lý nhà nước Theo nghĩa rộng: “QLNN là hoạt động, tổ chức điều hành của bộ máy. nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhả nước. trên các phương tiện lập pháp, hành pháp và tư pháp”.
Theo cách hiểu nay, QLNN được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao déng lam chi” [8] Theo nghĩa hep “QLNN chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước”[§] 12 d. Giải quyết việc làm Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những nội dung cơ bản của chiến lược phát triển KT - XH được toàn thế giới cam kết trong tuyên bố về chương trình hành động toàn cầu tại thủ đô Côpenhaghen (Đan Mạch) vào tháng 3/1995. Có thể u, giải quyết việc làm (GQVL) cho người lao động là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm phù hợp với năng lực và sở trường của mình. Theo nghĩa rộng: “Giải quyết việc làm là tổng thể những biện pháp, chính sách KT-XH của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho.
mọi người có khả năng lao động có việc làm”.[7] Theo nghĩa hẹp: “Giải quyết việc làm là các biện pháp chủ yếu hướng. vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm nhằm tạo ra việc làm cho người lao. động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất”. Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động được hiểu là sự tác động của nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, các kế hoạch, chính sách và các biện pháp nhằm đảm bảo cho người lao động có được việc làm; đồng thời sử dụng có hiệu quả và phát triển nguồn nhân lực.
Vấn đề GQVL là một lĩnh vực quan trọng trong QLNN về xã hội. Do vay, QLNN vé GQVL cho người lao động là sự tác động điều chỉnh của Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, kế hoạch, chính sách và các biện pháp nhằm đảm bảo cho người lao động có việc làm; bên cạnh đó sử dụng có hiệu quả và phát triển nguồn nhân lực lao động tại chỗ. Đặc điểm lao động nông thôn và việc làm lao động nông thôn a. Đặc điểm của lao động nông thôn Hiện nay, lực lượng lao động nông thôn chiếm tỷ lệ ước tính khoảng 13 76,6% so với tổng lực lượng lao động cả nước.
Lực lượng lao động nông thôn có những đặc điểm cơ bản sau: - Lao động nông thôn sống và làm việc rải rác trên dia bàn rộng. Đặc điểm này làm cho việc tổ chức hợp tác lao động và việc bồi dưỡng, đào tạo, cung cấp thông tin cho lao động nông thôn là rất khó khăn [7] ~ Lao động nông thôn có trình độ văn hoá và chuyên môn thấp hơn so với thành thị tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo chiếm một tỷ lệ thấp. Lao động nông thôn chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao động theo truyền thống và thói quen là chính. Điều đó làm cho lao động nông thôn có tính bảo thủ nhất định, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đi hương hướng sản xuất và thực hiện phân công.
lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn. [7] ~ Lao động nông thôn mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các vùng nông thôn thuần nông. Do vậy, việc sử dụng lao động trong nông thôn kém hiệu quả, hiện tượng thiếu việc làm là phổ biến. Vì vậy, quản lý tốt công tác giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn, đòi hỏi các nhà quản lý phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, bằng mọi biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa tính thời vụ bằng cách phát triển đa dạng nghành nghề trong nông thôn, thâm canh tăng vụ, xây dựng cơ cấu cây trồng hợp lý.
[7] - Lao động nông thôn có khả năng tiếp cận và tham gia thị trường kém, thiếu khả nămg nắm bắt và xử lý thông tin thị trường, khả năng hạch toán hạn chế. Do đó, khả năng giao lưu và phát triển sản xuất hàng hoá hạn chế. Để quản lý công tác giải quyết việc làm đạt hiệu quả, đòi hòi các địa phương phải đây mạnh hoạt động sản xuất theo hướng hàng hóa. Tăng cường công tác tuyên truyền các thông tin đến người lao động.
Đặc điểm việc làm trong lao động nông thôn Việc làm trong lao động nông thôn có những đặc điểm cơ bản sau: 14 - Năng suất lao động thắp dẫn đến thu nhập của người lao động thấp Lao động nông thôn chủ yếu làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp. Đây là là những ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên. Do đó năng suất lao động của những lao động này thường thấp hơn so với khu vực công nghiệp và dịch vụ. Tính thời vụ là một trong những đặc điểm nổi bật của nền sản xuất nông nghiệp.
Nó gây ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động cũng như thời gian lao động của người nông dân nông thôn. Hơn nữa, việc thu hoạch sản phẩm nông nghiệp được tiến hành trong thời gian ngắn. Trong khi quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng cây trồng, vật nuôi lại kéo dài. Nhiều sản phẩm sản xuất ra lại được tiêu dùng trực tiếp nên đôi khi người lao động không thu được thu nhập từ các nguồn này.
Năng suất lao động đã thấp lại cộng thêm với điều kiện tự nhiên không ôn định làm cho thu nhập của người nông dân thấp và bất ôn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tinh trạng đói nghèo trong nông thôn. - Điễu kiện làm việc của lao động nông thôn khó khăn Sản xuất nông nghiệp chủ yếu được tiến hành trong phạm vi không gian rộng lớn và ngoài trời. Khác với khu vực thành thị, kết cấu hạ tầng, trình độ kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa của nông thôn thấp hơn rất nhiều Điều này khiến cho người lao động nông nghiệp, nông thôn phải làm việc trong những điều kiện khắc nghiệt và khó khăn hơn rất nhiều.
- Việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn mang tính chất đa dạng. Do tính đa dạng của nông nghiệp nông thôn nên việc làm cho lao động nông thôn cũng mang tính đa dạng. Nông thôn mang tính chất đa dạng về quy mô, trình độ phát triển cũng như các hình thức tổ chức và quản lý. Ở nông thôn hiện nay đang tôn tại rất nhiều loại hình kinh doanh từ hộ nông dân, hợp tác xã dịch vụ đến các tổ hợp tác, công ty tư nhân.
Cùng với đó là các ngành 15 nghề phụ trợ cho nông nghiệp trong thời vụ nông nhàn khiến cho việc làm của người lao động rất đa dạng, phong phú. Ngay trong một ngành nghề cũng đòi hỏi những giai đoạn yêu cầu trình độ kỹ thuật khác nhau làm phát sinh các loại công việc mang tính chất khác nhau. ~ Việc làm của lao động nông thôn có thể không cho thu nhập trực tiếp. Ở nông thôn không phải bất cứ công việc nào cũng đều mang lại thu nhập cho người lao động.
Nhiều khi đó cũng chỉ là các hoạt động phúc lợi xã hội, xây dựng các khu trường học, trạm xá hay đường giao thông. Các hoạt động này tuy người lao động không có thu nhập trực tiếp nhưng họ lại được. hưởng thụ những thành quả lao động về sau.