Chương 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC GIAO DAT GIAO RỪNG CHO HỘ GIA ĐÌNH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao đất, giao rừng cho hộ gia đình 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1.1 Cách thức giao đất, giao rừng Cách thức tiễn hành giao đất trên thực địa có vai trò quyết định đến hiệu qua của công tác giao đất và sử dụng đất của hộ sau khi nhận giao. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc thực hiện chính sách tại một số địa phương khác xa so với tiến trình được quy định trong chính sách. Tác giả Clement và Amezaga (2009) cho thấy việc thực hiện giao đất và kết quả của giao đất phụ thuộc vào cách hiểu của chính quyền về bản thân chính sách và các nguồn lực về con người và tài chính mà chính quyền địa phương dành cho việc thực hiện.
Điều này đã cho thay được công tác QLNN có vai trò quan trong như thé nào đến hoạt động GDGR. Nếu chủ thể quản lý tức chính quyền được vận hành tốt, nguồn nhân lực có trình độ, nguồn lực tai chính đủ thì việc thực thi chính sách sẽ mang lại hiệu quả cao. Nghiên cứu của Castella và cộng sự (2006:151) cũng chi ra tình trạng tương tự; các tác giả nhắn mạnh: “Tiến trình GDGR được thực hiện áp đặt từ trên xuống. sẻ Không khó khăn dé có thé tìm thay các băng chứng về các quy định quản lý ở một thôn này chỉ là những bản photocopy các quy định của thôn lân cận, chỉ thay đôi về tên thôn và người đại diện.
Điều này đã khang định răng, một tiến trình áp đặt, không có sự cải tiến đổi mới để phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh của địa phương thì nó chỉ như một bản cóp nhặt và không mang lại hiệu quả thực thi cao. Do đó, trong công tác QLNN về GDGR cần phải có sự đối mới, cải thiện để phù hợp hon với điều kiện hoàn cảnh của từng nơi, từng vùng để việc thực thi được tốt nhất. Kết quả nghiên cứu của Clement và Amezaga (2009) đã cho thấy: ở nhiều noi, giao dat duoc thuc hién trén giấy tờ. Kết quả là, các hộ khác nhau được nhận “số đỏ ”cho cùng một mảnh đất.
Điều này đã phản ánh sự yếu kém trong công tác QLNN về GĐGR cho HGĐ. Một số địa phương chạy theo thành tích hoặc cách thức triển khai thiếu tính thực tiễn, minh bach đã dẫn đến mâu thuẫn giữa các HGĐ trong nhận đất, nhận rừng.2 Đồi mới trong công tác quản lý về giao đất giao rừng Từ khi nước ta chuyên đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 1986 đã tạo ra sự thay đôi trong công tác quản lý về GĐGR. Sự thay đổi này liên quan đến 3 khía cạnh cơ bản: Thứ nhất, xóa bỏ hình thức hợp tác xã, giao đất cho người dân. Thứ 2, tăng đầu tư cho phát triển miền núi thông qua các chương trình định canh định cư và trồng rừng trên những diện tích đất trong, đồi núi trọc.
Thứ 3, thúc day mo rong thi truong tao ra sự giao lưu hàng hóa giữa miền núi và đồng bằng, khuyến khích đầu tư từ khu vưc nhà nước và khối tư nhân lên vùng cao (Swerwine, 2004).3 Ảnh hưởng của công tác giao đất, giao rừng tới độ che phủ của rừng và chất luong rừng. Nghiên cứu của Castella và cộng sự (2006) cũng chỉ ra rang GDGR làm han chế canh tác nương rẫy của hộ, từ đó làm cho rừng tái sinh, góp phần tăng độ che phủ của rừng. Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại cho rằng mối liên kết giữa GĐGR. và độ che phủ rừng không rõ ràng.
Khi tiến hành nghiên cứu tại một số địa bàn vùng núi phía Bắc, tác giả Sikor (2001) quan sát thấy diện tích rừng tăng lên sau giao đất. Tuy nhiên, theo tác giả diện tích rừng được mở rộng không phải do thực hiện GDGR mà bởi các hộ trong điều kiện thị trường hàng hóa nông sản và dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp mở rộng đã tập trung nguồn lực, bao gồm cả lao động của hộ vào canh tác các cây nông nghiệp, đặc biệt là cây ngô; điều này góp phần làm giảm sức ép lên rừng. Kết quả là rừng được tái sinh và diện tích rừng được mở rộng. Tuy nhiên, một điểm chung được các nghiên cứu đưa ra đó là GDGR làm tăng diện tích RT, đặc biệt là diện tích RT của hộ, và điều này góp phần nâng cao độ che phủ rừng ở Việt Nam.
Nghiên cứu của Meyfroid và Lambin (2008) có chỉ ra rằng, mặc dù tỷ lệ che phủ rừng ở Việt Nam có tăng nhưng chất lượng RTN lại giảm. Giao đất tạo động lực cho mở rộng diện tích RT nhưng mở rộng RT tác động trực tiếp và tiêu cực đến diện tích RTN. Nói cách khác, đến nay vẫn chưa có cơ sở khoa học chắc chan dé khang định rang giao dat đã góp phan làm tăng chất lượng va mở rộng diện tích RTN. Ngược lại, một số nghiên cứu cho rang ở những địa phương nơi RTN còn trữ lượng, nhưng bị hạn chế về quyền và lợi ích từ rừng đã không tạo được động lực cho hộ và cộng đồng sống gần rừng tham gia bảo vệ rừng và đây cũng là một trong những nguyên nhân chính làm suy giảm chất lượng RTN tại các địa bàn này.4 Thực thi các quyên trên dat được giao GDGR kỳ vọng sẽ tạo ra sự chuyền biến tích cực về kinh tế, môi trường va xã hội của vùng cao, đặc biệt là những vùng quê nghèo.
Tuy nhiên, ở nhiều nơi sau khi giao đất được thực hiện, nhiều HGĐ được nhận đất nhưng lại không có điều kiện đầu tư vào đất đai, do vậy, không được hưởng lợi từ GDGR. Nói cách khác, các quyền được giao cho hộ không chuyên được thành lợi ích kinh tế. Điều này có nghĩa rằng, GDGR đã không đạt mục tiêu đề ra, ít nhất là tại một số địa phương. Tại một thôn người Dao của tỉnh Phú Thọ, do hạn chế về nguồn lực dé đầu tư vào đất những HGD nghéo đã chuyên nhượng một phần hoặc toàn bộ diện tích đất được giao của mình cho các hộ khá giả trong cùng cộng đồng hoặc cho những người bên ngoài cộng đồng.
Điều này đã làm xuất hiện thị trường đất đai, tuy nhiên cũng làm cho các hộ nghèo không còn đất canh tác (Tô Xuân Phúc, 2007). Nghiên cứu tại một số địa bàn vùng Tây Nguyên, Nguyễn Quang Tân (2006) thấy răng do thiếu nguôn lực, nhiều hộ được giao đất cũng không thé đầu tư vào dat. Công bằng trong giao đất Một số nghiên cứu chỉ ra rằng lợi ích mà GĐGR không phải lúc nào cũng được chia sẻ công bằng giữa các nhóm hộ khác nhau trong cùng một cộng đồng. Nghiên cứu của Tô Xuân Phúc tại một số thôn người Dao thuộc Hòa Bình và Phú Thọ cho thấy kết quả GĐGR phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc quyền lực của cộng đồng (Tô Xuân Phúc, 2007).
Cụ thể, các hộ cán bộ do nắm bắt được thông tin về GDGR trước khi chính sách được thực hiện, do vậy, thường nhận được nhiều đất ở những vi trí thuận lợi so với các hộ khác trong thôn. Đất được giao cho các hộ dựa trên nguyên tắc “khả năng sử dụng đất của hộ”, được đo bằng số lao động chính của hộ tại thời điểm giao đất. Điều này có nghĩa rang những HGD có nhiều lao động được nhận nhiều đất hơn so với các hộ có ít lao động. Nguyên tắc chia đất dựa trên số lượng lao động chính sẵn có của các hộ đã làm cho các hộ mới tách, thường là hộ có điều kiện khó khăn ở vị thế bất lợi.
Kết quả là các hộ nghèo thường nhận được ít đất. Bên cạnh đó, giao đất cũng làm phát sinh mâu thuẫn giữa các hộ. Nghiên cứu về tác động của GDGR tại Hòa Bình, Phú Tho và Hà Tây cũ của Tô Xuân Phúc (2007) đã chỉ ra một số mâu thuẫn phổ biến có liên quan đến ranh giới đường biên giữa các hộ, mâu thuẫn do sự bat bình đăng giữa các hộ trong giao đất, đặc biệt giữa các hộ cán bộ và các hộ dân khác.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Từ lâu, vấn đề GĐGR cho HGD đã được đề cập trong rất nhiều nghiên cứu bởi ý nghĩa, vai trò quan trọng của nó đối với sự phát triển kinh tế lâm nghiệp nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung. Tác giả Đinh Văn Thông (1993) đã cho rằng chủ trương GĐGR cho HGĐ là một chủ trương kinh tế - xã hội đúng đăn, hợp lòng người dân miền núi.
Việc GDGR cho HGĐ chính là quá trình từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất mới ở nông thôn miền núi. Nó đã giải quyết tốt vấn đề quyền sở hữu và quyền sử dụng rừng và đất rừng — tư liệu sản xuất chủ yếu đối với đồng bào dân tộc miền núi để nhằm mục đích tô chức và quản lý việc sản xuất, kinh doanh rừng và đất rừng một cách có hiệu quả, cải thiện đời sống nhân dân, khăng định quyền làm chủ của người dân, khuyến khích người lao động mạnh dạn đầu tư vào sản xuất, qua đó tăng cường quan lý, bảo vệ rừng hiệu quả. Đồng thời, chủ trương GDGR là một giải pháp quan trọng trong chiến lược phát triển nghé rừng, đó là chiến lược lâm nghiệp xã hội nhằm thu hút nguồn vốn trong dân và các thành phần kinh tế khác cho bảo vệ, phát trién rừng. Các khía cạnh khác nhau trong GĐGR cũng được nhiều tác giả nghiên cứu : 1.1 Cách thức giao đất, giao rừng Tác giả Tô Xuân Phúc và Trần Hữu Nghị (2014) đã chỉ ra những hạn chế trong cách thức thực hiện chính sách GDGR: - Pháp luật không quy định rõ cơ quan quản lý việc GĐGR.
Cụ thể trước năm 1996 cơ quan phụ trách giao đất là Cục Kiểm lâm, cùng với việc cấp số Lâm bạ dựa trên Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR). Sau năm 1996, cơ quan phụ trách giao đất là Phong Dia chính, cùng với việc cấp “số đỏ” trên cơ sở Luật Dat đai. Hiện trạng nay lam chậm tiễn độ triển khai việc giao đất ở một số địa phương. - Sự thiểu đồng bộ giữa Luật BV&PTR và Luật đất đai làm cho nhiều địa phương có những cách thực hiện và giải pháp khác nhau trong việc giao đất.
- Quá trình GDGR không được giám sát chặt chẽ nên luôn xuất hiện các nguy cơ tham nhũng.