Luận văn: Quản lý đầu tư hạ tầng giao thông bằng vốn ngân sách tại Điện Bàn

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
135
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đầu tư hạ tầng

Để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, việc nắm vững cơ sở lý luận là yêu cầu tiên quyết. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực này được định nghĩa là sự tác động có tổ chức của Nhà nước, thông qua pháp luật và chính sách, lên toàn bộ quá trình đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Hoạt động này không chỉ đơn thuần là phân bổ vốn mà còn bao trùm từ khâu lập quy hoạch, thẩm định dự án, tổ chức đấu thầu đến giám sát chất lượng và quyết toán công trình. Nguồn vốn cho các dự án này đến từ ngân sách nhà nước (NSNN), một nguồn lực công có vai trò then chốt trong việc xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, đặc biệt là hạ tầng giao thông (HTGT). Các dự án này có đặc điểm quy mô vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài, thậm chí không thể thu hồi trực tiếp, và hiệu quả chủ yếu được đo lường bằng lợi ích kinh tế - xã hội mang lại cho cộng đồng. Do đó, việc quản lý chặt chẽ là cần thiết để chống thất thoát, lãng phí và tham nhũng. Vai trò của quản lý nhà nước là định hướng đầu tư theo đúng quy hoạch, đảm bảo tính đồng bộ, kết nối của hệ thống giao thông, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng và nâng cao đời sống người dân. Việc phân cấp quản lý cho cấp huyện, như thị xã Điện Bàn, giúp chính quyền địa phương chủ động hơn trong việc triển khai các dự án phù hợp với điều kiện thực tế, nhưng cũng đặt ra thách thức về năng lực và cơ chế giám sát. Luận văn của tác giả Dương Tấn Bình nhấn mạnh: “Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông từ NSNN là sự phối hợp những hoạt động nhằm sử dụng nguồn vốn NSNN để xây dựng các công trình giao thông đáp ứng các mục tiêu đầu tư đã được xác định”.

1.1. Các khái niệm cốt lõi về đầu tư và quản lý nhà nước

Đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, vật chất và lao động để xây dựng mới, cải tạo hoặc nâng cấp các công trình đường bộ, cầu cống, bến bãi nhằm phục vụ nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa. Khi hoạt động này sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, nó mang bản chất của đầu tư công, với chủ thể đầu tư là Nhà nước và mục tiêu chính là phục vụ lợi ích cộng đồng. Quản lý nhà nước về lĩnh vực này là sự tác động của các cơ quan công quyền vào toàn bộ chu trình dự án, từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến khi kết thúc và đưa vào khai thác. Quá trình này bao gồm các hoạt động hoạch định chính sách, xây dựng quy hoạch, ban hành các văn bản pháp quy, và tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát. Mục tiêu là đảm bảo mọi hoạt động đầu tư tuân thủ pháp luật, sử dụng hiệu quả nguồn vốn công và đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.

1.2. Đặc điểm của dự án hạ tầng giao thông vốn ngân sách

Các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN có nhiều đặc điểm riêng biệt. Thứ nhất, đây là các dự án có quy mô vốn rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi đầu tư phát triển của địa phương. Thứ hai, hiệu quả của dự án không chỉ tính bằng lợi nhuận tài chính trực tiếp mà chủ yếu là hiệu quả kinh tế - xã hội lan tỏa, như thúc đẩy giao thương, thu hút đầu tư, giảm chi phí vận tải và nâng cao an toàn giao thông. Thứ ba, quá trình đầu tư chịu sự chi phối chặt chẽ của hệ thống pháp luật về đầu tư công, xây dựng, đấu thầu. Chính quyền địa phương, với tư cách là chủ đầu tư hoặc đại diện chủ đầu tư, tham gia trực tiếp vào toàn bộ quá trình quản lý dự án. Cuối cùng, do sử dụng tiền thuế của nhân dân, các dự án này luôn đòi hỏi tính minh bạch, công khai và trách nhiệm giải trình cao để ngăn chặn các hành vi tiêu cực như thất thoát, lãng phí.

1.3. Nội dung quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng

Nội dung quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng HTGT bao gồm một chuỗi các hoạt động liên kết chặt chẽ. Khởi đầu là công tác xây dựng quy hoạch và kế hoạch đầu tư, định hướng cho sự phát triển dài hạn. Tiếp theo là giai đoạn lập, thẩm định dự án và thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả. Sau đó là công tác đấu thầu để lựa chọn nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm. Trong quá trình thi công, công tác quản lý chất lượng và nghiệm thu công trình đóng vai trò quyết định đến tuổi thọ và sự an toàn của công trình. Giai đoạn cuối cùng bao gồm việc thanh, quyết toán vốn đầu tư một cách chính xác, minh bạch và công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm. Mỗi nội dung đều có vai trò quan trọng, góp phần tạo nên một quy trình quản lý toàn diện và hiệu quả.

II. Top 5 thách thức trong quản lý đầu tư hạ tầng giao thông Điện Bàn

Thực tiễn công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2015-2019 đã bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức. Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc thay đổi diện mạo đô thị và nông thôn, quá trình quản lý vẫn tồn tại nhiều bất cập cần khắc phục. Luận văn đã chỉ ra các vấn đề cốt lõi, từ công tác lập quy hoạch chưa thực sự gắn kết với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tổng thể, dẫn đến tình trạng chắp vá, thiếu đồng bộ. Nguồn lực tài chính còn hạn hẹp so với nhu cầu đầu tư lớn, gây ra tình trạng đầu tư dàn trải, kéo dài. Công tác thẩm định dự án và thiết kế - dự toán đôi khi còn sơ sài, thiếu cơ sở khoa học, dẫn đến rủi ro đội vốn và chất lượng công trình không đảm bảo. Bên cạnh đó, năng lực của một số chủ đầu tư, đặc biệt là cấp xã, trong công tác đấu thầu còn hạn chế, dễ phát sinh sai sót. Công tác quản lý chất lượng và nghiệm thu chưa được quan tâm đúng mức, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến độ bền vững của công trình. Cuối cùng, hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa thực sự quyết liệt và thường xuyên, làm giảm tính răn đe đối với các hành vi vi phạm. Đây là những nút thắt lớn cần được tháo gỡ để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn NSNN.

2.1. Bất cập trong quy hoạch và bố trí vốn đầu tư dàn trải

Một trong những hạn chế lớn nhất được chỉ ra là công tác quy hoạch hạ tầng giao thông chưa có tầm nhìn dài hạn và thiếu sự liên kết chặt chẽ với quy hoạch phát triển chung của thị xã. Nhiều dự án được thực hiện một cách chắp vá, thiếu tính đồng bộ, gây khó khăn trong việc kết nối các khu vực. Bên cạnh đó, nhu cầu vốn để thực hiện quy hoạch là rất lớn, trong khi nguồn vốn NSNN của địa phương lại có hạn. Điều này dẫn đến tình trạng bố trí vốn đầu tư dàn trải cho nhiều dự án cùng lúc. Hậu quả là nhiều công trình bị kéo dài thời gian thi công, gây lãng phí nguồn lực, làm tăng tổng mức đầu tư do trượt giá và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Việc phân bổ vốn chưa thực sự dựa trên thứ tự ưu tiên và hiệu quả kinh tế - xã hội, làm giảm hiệu quả chung của hoạt động đầu tư xây dựng.

2.2. Hạn chế trong thẩm định dự án và quản lý chất lượng

Công tác lập và thẩm định dự án đầu tư tại Điện Bàn vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề. Theo luận văn, "Hồ sơ thẩm định dự án HTGT và hồ sơ về thẩm định thiết kế kỹ thuật - tổng dự toán chưa đầy đủ theo yêu cầu". Hệ thống định mức, đơn giá chưa được cập nhật kịp thời, gây khó khăn cho cả đơn vị thiết kế và cơ quan thẩm định. Điều này tiềm ẩn nguy cơ phê duyệt các dự án có tổng dự toán thiếu chính xác, dễ dẫn đến thất thoát, lãng phí. Song song đó, công tác quản lý chất lượng và nghiệm thu công trình chưa được chú trọng đúng mức. Việc giám sát chất lượng vật liệu đầu vào, quy trình thi công của nhà thầu đôi khi còn lỏng lẻo. Năng lực của đội ngũ cán bộ giám sát ở một số đơn vị còn hạn chế, chưa theo kịp các tiêu chuẩn kỹ thuật mới, ảnh hưởng đến chất lượng lâu dài của các công trình hạ tầng giao thông.

2.3. Vướng mắc trong đấu thầu và quyết toán vốn ngân sách

Năng lực quản lý đấu thầu của một số chủ đầu tư, đặc biệt là ở cấp xã, phường, còn yếu. Điều này dẫn đến những sai sót trong quá trình lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, làm giảm tính cạnh tranh, minh bạch và có thể lựa chọn phải nhà thầu không đủ năng lực. Công tác thanh, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình cũng gặp nhiều khó khăn. Thủ tục còn rườm rà, thời gian quyết toán kéo dài gây ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của các nhà thầu. Việc chậm quyết toán cũng làm cho việc xác định giá trị tài sản sau đầu tư không kịp thời, gây khó khăn cho công tác quản lý tài sản công. Những vướng mắc này không chỉ làm chậm tiến độ chung của các dự án đầu tư mà còn là kẽ hở tiềm tàng cho các hành vi tiêu cực phát sinh.

III. Phương pháp hoàn thiện quy hoạch và thẩm định dự án đầu tư

Để giải quyết các thách thức trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại Điện Bàn, việc đề xuất các giải pháp đồng bộ và khả thi là vô cùng cần thiết. Luận văn đã tập trung vào việc hoàn thiện các khâu quan trọng trong chu trình quản lý dự án, bắt đầu từ nền tảng là công tác quy hoạch và lập kế hoạch. Một trong những giải pháp trọng tâm là nâng cao chất lượng quy hoạch, đảm bảo quy hoạch HTGT phải được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học, có tầm nhìn dài hạn và tích hợp chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của thị xã. Kế hoạch đầu tư trung và dài hạn cần được xây dựng một cách thực tế, tập trung vào các công trình trọng điểm, tránh đầu tư dàn trải. Song song đó, việc chuẩn hóa quy trình lập và thẩm định dự án là yếu tố then chốt. Cần xây dựng một bộ tiêu chí đánh giá rõ ràng, minh bạch, đồng thời nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ thẩm định. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dự án cũng được đề xuất để tăng cường tính chính xác và hiệu quả. Các giải pháp này khi được áp dụng sẽ giúp các quyết định đầu tư được đưa ra một cách đúng đắn ngay từ đầu, giảm thiểu rủi ro thất thoát, lãng phí và tối đa hóa hiệu quả sử dụng nguồn vốn NSNN.

3.1. Nâng cao chất lượng xây dựng quy hoạch kế hoạch đầu tư

Giải pháp đầu tiên và mang tính nền tảng là phải đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng quy hoạch. Quy hoạch hạ tầng giao thông phải đi trước một bước, đóng vai trò định hướng và tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Cần tăng cường sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và đặc biệt là cộng đồng dân cư trong quá trình lập quy hoạch để đảm bảo tính thực tiễn và đồng thuận xã hội. Sau khi quy hoạch được phê duyệt, cần công khai rộng rãi để người dân và doanh nghiệp cùng tham gia giám sát. Về kế hoạch đầu tư, cần chấm dứt tình trạng dàn trải bằng cách xây dựng danh mục dự án ưu tiên dựa trên các tiêu chí rõ ràng về tính cấp thiết, hiệu quả kinh tế - xã hội và khả năng kết nối. Việc bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước phải tập trung, dứt điểm cho từng công trình để sớm đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả.

3.2. Chuẩn hóa quy trình lập và thẩm định dự án xây dựng

Để tránh các sai sót ngay từ giai đoạn chuẩn bị, cần chuẩn hóa toàn bộ quy trình lập và thẩm định dự án. Các chủ đầu tư, đặc biệt là cấp xã, cần được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn về quản lý dự án. Hồ sơ dự án trình thẩm định phải đảm bảo đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật, từ sự cần thiết đầu tư, phân tích hiệu quả kinh tế-xã hội, đến các giải pháp kỹ thuật, tài chính. Cơ quan thẩm định cần nâng cao vai trò, trách nhiệm, xem xét một cách khách quan, toàn diện các nội dung của dự án. Đặc biệt, cần kiên quyết loại bỏ những dự án đầu tư không hiệu quả, không khả thi hoặc chưa thực sự cấp bách, góp phần sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn vốn NSNN.

3.3. Tối ưu hóa thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán công trình

Khâu thiết kế kỹ thuật và lập tổng dự toán là nơi dễ xảy ra thất thoát, lãng phí nếu không được quản lý chặt chẽ. Giải pháp được đề xuất là tăng cường công tác thẩm tra, thẩm định thiết kế và dự toán. Cần thường xuyên cập nhật và áp dụng các bộ đơn giá, định mức mới phù hợp với giá cả thị trường. Khuyến khích áp dụng các công nghệ, vật liệu mới, các giải pháp thiết kế tối ưu để tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đảm bảo chất lượng và tuổi thọ công trình. Nâng cao trách nhiệm của đơn vị tư vấn thiết kế và đơn vị thẩm tra trong việc đảm bảo tính chính xác, hợp lý của hồ sơ. Việc quản lý chặt chẽ khâu này không chỉ giúp tiết kiệm ngân sách mà còn là cơ sở quan trọng cho việc quản lý chất lượng thi công sau này.

IV. Bí quyết siết chặt quản lý chất lượng và minh bạch đấu thầu

Sau khi dự án được phê duyệt, giai đoạn thực hiện đầu tư với các hoạt động đấu thầu, thi công và giám sát chất lượng đóng vai trò quyết định đến sự thành công của toàn bộ công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông. Để nâng cao hiệu quả, luận văn đề xuất một loạt giải pháp tập trung vào việc tăng cường tính minh bạch, cạnh tranh trong đấu thầu và siết chặt kỷ cương trong quản lý chất lượng. Về công tác đấu thầu, cần hoàn thiện quy trình, áp dụng rộng rãi hình thức đấu thầu qua mạng để giảm thiểu tiêu cực, đảm bảo lựa chọn được nhà thầu thực sự có năng lực với giá cả cạnh tranh. Nâng cao năng lực cho các tổ chuyên gia đấu thầu và tăng cường giám sát của cộng đồng. Về quản lý chất lượng, giải pháp trọng tâm là tăng cường vai trò và trách nhiệm của đơn vị tư vấn giám sát và chủ đầu tư. Mọi công đoạn thi công, vật liệu đầu vào đều phải được kiểm tra, nghiệm thu chặt chẽ theo đúng thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuật. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm sẽ tạo ra sức răn đe, góp phần lập lại trật tự trong hoạt động đầu tư xây dựng, đảm bảo mỗi đồng vốn ngân sách nhà nước được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả nhất.

4.1. Giải pháp siết chặt quản lý chất lượng và nghiệm thu

Chất lượng công trình hạ tầng giao thông ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn và sự phát triển bền vững. Do đó, cần siết chặt công tác quản lý chất lượng ở mọi khâu. Phải yêu cầu nhà thầu thi công tuân thủ nghiêm ngặt hồ sơ thiết kế đã được phê duyệt và các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành. Tăng cường vai trò của tư vấn giám sát, yêu cầu phải có nhật ký giám sát chi tiết, thường xuyên báo cáo cho chủ đầu tư. Thành lập các đoàn kiểm tra đột xuất của cơ quan quản lý nhà nước để giám sát chéo. Công tác nghiệm thu phải được thực hiện đúng quy trình, chỉ nghiệm thu khi công trình thực sự đạt yêu cầu về chất lượng. Kiên quyết xử lý các cá nhân, tổ chức thiếu trách nhiệm trong giám sát, thi công gây ảnh hưởng đến chất lượng công trình.

4.2. Hoàn thiện công tác đấu thầu và lựa chọn nhà thầu

Để đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế, công tác đấu thầu cần được hoàn thiện. Trước hết, cần nâng cao chất lượng hồ sơ mời thầu, trong đó các tiêu chí đánh giá phải rõ ràng, cụ thể, phù hợp với quy mô và tính chất kỹ thuật của từng gói thầu. Đẩy mạnh việc áp dụng đấu thầu qua mạng theo lộ trình của Chính phủ để tăng tính công khai, giảm thiểu sự can thiệp chủ quan. Cần đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác đấu thầu để hạn chế sai sót. Đồng thời, tăng cường công tác giám sát quá trình tổ chức đấu thầu và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu như thông thầu, gian lận, nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực đầu tư xây dựng.

4.3. Nâng cao hiệu quả thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm

Công tác thanh tra, kiểm tra là công cụ hữu hiệu để phòng ngừa, phát hiện và xử lý các sai phạm trong quản lý dự án đầu tư. Cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất đối với các dự án, đặc biệt là các dự án có quy mô lớn, tính chất phức tạp. Nội dung kiểm tra phải toàn diện, bao quát tất cả các khâu từ chuẩn bị đầu tư đến quyết toán. Kết luận thanh tra phải rõ ràng, chỉ rõ trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức có liên quan. Quan trọng nhất là phải xử lý nghiêm minh, kịp thời các vi phạm được phát hiện, không có vùng cấm. Việc công khai kết quả xử lý vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng sẽ góp phần nâng cao tính răn đe và củng cố kỷ cương trong quản lý nhà nước.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã điện bàn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản quản lý nhà nước về đầu tư xây. dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Chương 3.

Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 13 CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CO BAN QUAN LY NHA NUOC VE DAU TU XAY DUNG BANG NGUON VON NGAN SACH NHA NUOC 1. KHÁI QUÁTQUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀU TƯ XÂY DỰNG HẠ TANG GIAO THONG BANG NGUON VON NGAN SACH NHA NƯỚC 1. Một số khái niệm a. Khái niệm dau tw “Đầu tư là một khái niệm mà hiện nay có rất nhiều cách phát biểu khác nhau tùy theo quan điểm và cách nhìn nhận vấn đề trong hoạt động đầu tư.

Có thể nêu một vài cách diễn đạt về khái niệm đầu tư như sau:Đầu tư đó là quá trình sử dụng vốn để tạo nên các nhân tố sản xuất đặc biệt là các tư liệu sản xuất như nhà xưởng, máy móc và vật tư hoặc để mua cỗ , trái phiếu hoặc cho vay lấy lãi hoặc để mua hàng hóa và sau đó bán lại, mà ở đây những chủ trương đầu tư này có thể sinh lợi dần hoặc thỏa mãn một nhu cầu nào đó cho. người bỏ vốn cũng như toàn xã hội trong một thời gian nhất định trong tương. Đầu tư đó là một quá trình sử dụng vốn nhằm tạo nên các tài sản để sinh lợi dần theo thời gian. Đầu tư đó là một quá trình chỉ vốn cho một hoạt động kinh doanh nào đó và ngược lại chủ đầu tư sẽ nhận được các khoản thu trong tương lai để đảm bảo hoàn vốn và có lãi [1, tr.

“Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ đề tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời gian nhất định nhằm thu về lợi nhuận cho chủ thể đầu tư và lợi ích kinh tế xã hội.Theo quan điểm của doanh nghiệp, đầu tư là hoạt động sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu thu được lợi nhuận.Theo quan điểm của Nhà nước, đầu tư là hoạt động sử dụng các 14 nguồn lực, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia”[2, tr. “Trên giác độ vĩ mô, đầu tư là nhằm đáp ứng những mục tiêu sau:Thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong. từng thời kỳ của quốc gia, từng ngành và từng địa phương, vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng; Sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng, tài nguyên của đất nước, huy động tối đa và sử dụng hiệu quả cao các nguồn lực của ngành, địa phương và toàn xã hội; Tạo ra sự chuyên biến cơ bản trong tăng trưởng, kinh tế phát triển một cách mạnh mẽ, ổn định và đạt hiệu quảcao; Thúc đây khoa học công nghệ phát triển, đây mạnh được sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá, phát triển văn hoá, giáo dục, y tế. Đầu tư đầy mạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện phát triển kinh tế mọi miền đất nước, góp phần đưa nông thôn, vùng xa, vùng nghèo tiến kịp các khu vực phát triển; Thúc đầy tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần ngày được nang cao”[1, tr.

Khái niệm dau tw xay dungha tang giao thong “Hạ tầng giao thông đường bộ là hệ thống những công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ được xây dựng, nhằm đảm bảo cho việc đi chuyển, đón trả khách, xếp đỡ hàng hóa và vận chuyển hàng hóa, dịch vụ của các loại phương tiện tham gia giao thông diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi và an toàn”[1I, tr.56] “Đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông từ NSNN: Đầu tư xây dựng HTGTtừ NSNN là sự phối hợp những hoạt động nhằm sử dụng nguồn vốn NSNN để xây dựng các công trình HTGT đáp ứng các mục tiêu đầu tư đã 15 được xác định trong một khoảng thời gian với nguồn kinh phí nhất định trong. khuôn khổ các quy định về quản lý hiện hành của nhà nước về ĐTXD và NSNN"[3, tr. Khái niệm quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tằng giao thông Xuất phát từ những giác độ tiếp cận nghiên cứu khác nhau, nhiều tác giả đã đưa ra những quan điểm khác nhau về quản lý. Một số định nghĩa về quản lý của một số tác giả như sau: Theo tac giả Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.

Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tô chức, chỉ đạo điều chinh và kiểm soát ấy”. Theo tác giả Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định". Theo tac gid Peter. Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn.

Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích” Có tác giả lại cho rằng quản lý là các loại hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác. Cũng có tác giả cho rằng quản lý là một một hoạt động bảo đảm phối hợp những nỗ lực các cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Những quan điểm trên tuy dễ hiểu, rõ ràng nhưng chưa làm rõ bản chất của quản lý. Một cách đơn giản và tương đối toàn diện về mặt bản chất có thể hiểu khái niệm quản lý như sau: Quản lý thực chất là một hành vi, đã là hành vi thì phải có chủ thể (chủ thể gây ra hành vi) và đối tượng (đối tượng chịu sự tác động của hành vi), mục tiêu (hành vi đó vì mục tiêu gì) và hành vi thông thường gắn với môi 16 trường nhất định (hành vi được tiến hành trong bối cảnh như thế nào).

Môi trường có ảnh hưởng đến hành vi. Nhu vậy, để hình thành nên hoạt động quản lý cần có 3 yếu tố: Chủ thẻ quản lý (ai là người quản lý, tác nhân tạo ra các tác động), Đối tượng bị quản lý (quản lý cái gì, người, sự vật tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra), mục tiêu quản lý (quản lý để đạt được cái gì). Có được 3 yếu tố trên nghĩa là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quan ly. Quan ly bao giờ cũng gắn liền trong một môi trường nhất định (quản lý trong môi trường.

như thế nào) Từ đó có thê đưa ra một khái niệm có tính chất tổng quát về quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động của chủ thể lên đối tượng nhằm đạt được mục. tiêu đặt ra trong một điều kiện nhất định của môi trường”. Quản lý có thể chia thành 2 lĩnh vực quản lý ở tầm vĩ mô và quản lý ở tầm vi mô.Quản lý ở tầm vĩ mô chính là quản lý nhà nước (trong 1 quốc gia, 1 tinh, 1 huyện, 1 xã). Quản lý ở tầm vi mô chính là quản lý trong một tổ chức (trong 1 cơ quan, 1 doanh nghiệp) hoặc hộ gia đình ~ Quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên tập thể những người quản lý trong hệ thống, sử dụng một cách tốt nhất tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện hành Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức, bằng pháp luật và thông qua hệ thống các chính sách với các công cụ quản lý kinh tế lên nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế dat nước, trên cơ sở sử dụng.

có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý ở tầm vĩ mô, giải quyết những quan hệ vĩ mô có liên quan đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. 17 Nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế là nhu cầu khách quan, và nền kinh tế thị trường vận động theo cơ chế thị trường. Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng tầng giao thông từ NSNN: “Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng tầng giao thông từ NSNN là sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở phối hợp những hoạt động nhằm sử dụng nguồn vốn NSNN để xây dựng các công trình giao thông đáp ứng các mục tiêu đầu tư đã được xác định trong một khoảng thời gian với nguồn kinh phí nhất định trong khuôn khổ các quy định về quản lý hiện hành của nhà nước về ĐTXD và NSNN"[12, tr29] 1.

Đặc điểm quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước - Đầu tư XDHTGT từ nguồn vốn NSNN là quá trình mà chủ thể đầu tư là Nhà nước bỏ vốn từ ngân sách để tiến hành các hoạt động xây dựng công. trình giao thông vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Vốn chỉ cho hoạt động đầu tư XDHTGT từ NSNN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chỉ đầu tư, được cấp phát trực tiếp, nên là nguồn vốn dễ bị thất thoát vì vậy cần phải được quản lý chặt chẽ. Mặt khác, vốn chỉ cho hoạt động đầu tư XDCB từ 'NSNN được phân bổ theo dự toán chỉ hàng năm, là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thi công xây dựng công trình kéo dài để chờ vốn, làm tăng.

tổng mức đầu tư, lãng phí vốn đầu tư.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ