Tổng quan nghiên cứu

Gia Lai là tỉnh miền núi thuộc khu vực Tây Nguyên với diện tích tự nhiên 15.510 km² và quy mô dân số trên 1,4 triệu người. Địa phương có 34 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 44% dân số toàn tỉnh (chủ yếu là dân tộc Jrai và Bahnar với tỷ lệ 40,99%). Năm 2017, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt 7,81%, GRDP bình quân đầu người đạt 41,58 triệu đồng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 18.957,8 tỷ đồng và thu ngân sách nhà nước đạt 4.181 tỷ đồng. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển nguồn nhân lực có kỹ thuật.

Tuy nhiên, thực tiễn công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại Gia Lai còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn lớn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm 2017 mới chỉ đạt 31,5% (tổng số lao động qua đào tạo chung đạt 46%), trong khi tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vẫn ở mức cao 13,55%. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ những bất cập trong quản trị hệ thống đào tạo nghề, tình trạng mất cân đối giữa đào tạo ngắn hạn và dài hạn, cũng như khoảng trống phân bố mạng lưới cơ sở đào tạo.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là hệ thống hóa khung lý luận quản lý nhà nước về đào tạo nghề; phân tích toàn diện thực trạng công tác này trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2013-2017; và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm thực hiện hiệu quả Đề án quy hoạch đào tạo nghề với chỉ tiêu cung ứng 65.000 lao động qua đào tạo cho giai đoạn đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu giải quyết việc làm mới hàng năm cho hơn 25.090 người lao động và thúc đẩy giảm nghèo bền vững tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết quản trị hiện đại làm nền tảng, trọng tâm là Lý thuyết quản lý khoa học của Frederick Taylor và Lý thuyết hệ thống trong khoa học hành chính. Quản lý nhà nước được nhìn nhận là sự tác động có tổ chức, có định hướng của các cơ quan công quyền thông qua hệ thống pháp luật, chính sách và nguồn lực nhằm điều chỉnh hành vi của các chủ thể đào tạo nghề, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Mô hình nghiên cứu quản lý nhà nước về đào tạo nghề được cấu trúc xoay quanh 5 nội dung then chốt:

  1. Ban hành và thực thi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo nghề.
  2. Tổ chức, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước và phân cấp trách nhiệm hành chính.
  3. Quy hoạch và quản lý quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
  4. Quản lý, kiểm soát chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra và các nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất.
  5. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng và giải quyết khiếu nại tố cáo.

Các khái niệm chuyên ngành nền tảng bao gồm: Nghề nghiệp, Đào tạo nghề (trang bị kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và tác phong kỷ luật để người học có năng lực tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm), Quản lý nhà nước về đào tạo nghề và Đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo các chương trình mục tiêu của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Gia Lai, các báo cáo tổng kết giai đoạn 2010-2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, cùng dữ liệu sơ cấp từ các đợt khảo sát thực tế.

Cỡ mẫu khảo sát nhu cầu đào tạo nghề đạt quy mô toàn diện với 242.023 hộ gia đình tại 222 xã, phường, thị trấn thuộc toàn bộ 17 đơn vị hành chính cấp huyện trên địa bàn tỉnh năm 2016. Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng dữ liệu điều tra chọn mẫu phân tầng về nhận thức định hướng nghề nghiệp từ học sinh tốt nghiệp phổ thông và các bậc phụ huynh do ngành giáo dục địa phương thực hiện.

Phương pháp phân tích được lựa chọn gồm: phân tích thống kê mô tả, phân tích dãy số thời gian biến động giai đoạn 2013-2017, so sánh tương quan, phương pháp bảng biểu và đồ thị toán học. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm định lượng hóa chính xác hiệu quả điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước, đo lường tốc độ xử lý thủ tục hành chính và phản ánh trung thực hiện trạng cơ cấu trình độ đào tạo trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô tuyển sinh và đào tạo nghề có xu hướng chững lại sau giai đoạn tăng trưởng ban đầu. Năm 2013, toàn tỉnh tuyển sinh được 13.050 người (tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 27,4%), tăng lên mức đỉnh 15.239 người vào năm 2014 (nâng tỷ lệ lên 27,6%). Tuy nhiên, các năm tiếp theo ghi nhận sự sụt giảm: năm 2015 đạt 13.754 người (tỷ lệ 29,2%), năm 2016 đạt 10.793 người (tỷ lệ 30,4%) và năm 2017 chỉ đạt 10.298 người (tỷ lệ 31,5%). Trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956, năm 2016 tuyển sinh 2.136 người (đạt 76,7% kế hoạch) và năm 2017 đạt 1.476 người (đạt 70,3% kế hoạch), dù kết quả lũy kế toàn giai đoạn đạt 5.301 người (101,5% kế hoạch giao).

Thứ hai, công tác cải cách hành chính và phổ biến văn bản pháp luật ghi nhận những cải thiện vượt bậc. Số lượng văn bản quy phạm và hướng dẫn được ban hành tăng đều đặn từ 42 văn bản (năm 2013) lên 52 văn bản (năm 2017). Số lượt tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật tăng từ 10 lần (năm 2013) lên 18 lần (năm 2017). Đáng chú ý, thời gian chuyển giao văn bản từ cơ quan quản lý đến các cơ sở dạy nghề giảm mạnh từ 3,5 ngày (năm 2013) xuống còn 1,5 ngày (năm 2017), giúp tỷ lệ đối tượng nắm bắt kịp thời các quy định pháp luật tăng từ 70% lên 85%.

Thứ ba, sự mất cân đối nghiêm trọng trong phân bố mạng lưới và cơ cấu trình độ đào tạo. Toàn tỉnh Gia Lai có 17 cơ sở dạy nghề (15 cơ sở công lập gồm 1 Trường Cao đẳng nghề, 4 Trường Trung cấp nghề, 6 Trung tâm dạy nghề, 4 cơ sở khác; và 2 cơ sở ngoài công lập). Mạng lưới cơ sở chỉ tập trung tại 10 huyện, thị xã, thành phố; còn tới 7 huyện hoàn toàn trắng cơ sở dạy nghề độc lập gồm: Phú Thiện, Chư Pưh, Kông Chro, Đak Pơ, Đak Đoa, Chư Păh và Ia Pa. Về cơ cấu đào tạo, trong tổng số 16.290 lao động có nhu cầu học nghề năm 2016, trình độ sơ cấp chỉ có 300 người (1,84%), trung cấp nghề chỉ có 120 người (0,74%), trong khi các lớp truyền nghề ngắn hạn dưới 3 tháng chiếm áp đảo với 15.870 người (97,42%).

Thứ tư, tâm lý chuộng bằng cấp đại học tiếp tục là rào cản xã hội lớn. Kết quả khảo sát thực tế của ngành giáo dục địa phương năm 2016 cho thấy có 73,5% học sinh và 77,2% phụ huynh lựa chọn thi vào đại học thay vì học nghề, trực tiếp gây ra nghịch lý "thừa thầy thiếu thợ", khiến nhiều doanh nghiệp trên địa bàn phải tốn chi phí tuyển dụng lao động kỹ thuật từ các tỉnh khác.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy giảm quy mô tuyển sinh dài hạn và khoảng trống mạng lưới tại 7 huyện vùng sâu phản ánh tính thụ động của bộ máy quản lý trung gian, cơ chế phân cấp trách nhiệm giữa cấp tỉnh và cấp huyện còn chồng chéo. Nguồn lực đầu tư cho cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành tại các cơ sở công lập chưa theo kịp tốc độ đổi mới công nghệ của khối doanh nghiệp.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ kết hợp (Combo Chart) để biểu diễn tương quan giữa số lượng tuyển sinh hàng năm (cột) và đường tỷ lệ lao động qua đào tạo (đường tăng trưởng từ 27,4% lên 31,5%). Đồng thời, bảng ma trận phân bố địa lý 17 cơ sở đào tạo trên 17 đơn vị hành chính giúp các nhà hoạch định chính sách nhận diện rõ nét các vùng lõm về dịch vụ đào tạo nghề.

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về dạy nghề tại Hà Nội hay Đà Nẵng, đồng thời làm nổi bật tính đặc thù của địa bàn Tây Nguyên. Để tháo gỡ điểm nghẽn, Gia Lai cần tiếp thu sâu sắc các bài học thành công từ tỉnh Kon Tum về mô hình dạy nghề lưu động "cầm tay chỉ việc" cho đồng bào dân tộc thiểu số; kinh nghiệm từ tỉnh Đắk Lắk về mô hình trồng và khai thác nấm tại Krông Púk tạo thu nhập ổn định 4-5 triệu đồng/tháng; và mô hình liên kết chặt chẽ "Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp" của Đà Nẵng và Đồng Nai nhằm giải quyết dứt điểm bài toán đầu ra cho người học.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách đặc thù địa phương. Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai cần xây dựng các chính sách ưu đãi vượt trội về học phí, sinh hoạt phí và đất đai để hỗ trợ đồng bào dân tộc Jrai, Bahnar và các đối tượng yếu thế tham gia học nghề. Ứng dụng công nghệ thông tin để số hóa 100% quy trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ hành chính trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, duy trì thời gian luân chuyển văn bản dưới 24 giờ.

Thứ hai, tái quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp đến năm 2025. Tiến hành rà soát, sáp nhập các trung tâm hoạt động kém hiệu quả; thành lập mới các phân hiệu hoặc trường cao đẳng cộng đồng để xóa hoàn toàn điểm trắng cơ sở dạy nghề tại 7 huyện vùng sâu (Phú Thiện, Chư Pưh, Kông Chro, Đak Pơ, Đak Đoa, Chư Păh, Ia Pa). Khuyến khích nguồn lực xã hội hóa để nâng tỷ lệ cơ sở đào tạo ngoài công lập từ mức 11,8% (2/17 cơ sở) lên trên 25%.

Thứ ba, chuẩn hóa chương trình và đổi mới phương thức đào tạo gắn với doanh nghiệp. Nâng thời lượng thực hành lên tối thiểu 70% tổng thời gian khóa học; đẩy mạnh phương thức đào tạo lưu động trực tiếp tại các thôn, làng. Thiết lập thỏa thuận hợp tác đào tạo theo đơn đặt hàng với hơn 3.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh, đặt mục tiêu tối thiểu 80% học viên tốt nghiệp các khóa sơ cấp và trung cấp có việc làm ngay với mức thu nhập ổn định.

Thứ tư, tăng cường hiệu lực công tác thanh tra, kiểm định chất lượng đào tạo. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì nâng tần suất kiểm tra chuyên đề từ 1-2 đợt/năm lên tối thiểu 4 đợt/năm đối với 100% cơ sở đào tạo nghề; giám sát nghiêm ngặt việc phân bổ và sử dụng nguồn vốn từ Đề án 1956 và các chương trình mục tiêu quốc gia, bảo đảm tuyệt đối không để xảy ra thất thoát, lãng phí ngân sách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và huyện: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giáo dục và Đào tạo cùng Ủy ban nhân dân các cấp tại Gia Lai và khu vực Tây Nguyên sử dụng làm cơ sở thực tiễn để xây dựng quy hoạch phát triển mạng lưới giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2020-2030.
  2. Ban giám hiệu các cơ sở đào tạo nghề: Các trường cao đẳng, trung cấp nghề và trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên tham khảo các chỉ số thống kê để tái cấu trúc danh mục ngành nghề, đổi mới phương pháp giảng dạy "cầm tay chỉ việc" và thiết kế mô hình đào tạo lưu động cho lao động nông thôn.
  3. Giảng viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế và Quản lý công: Nắm bắt khung lý thuyết chuẩn tắc về quản lý nhà nước trong giáo dục nghề nghiệp, phương pháp tiếp cận điều tra xã hội học quy mô 242.023 hộ dân và kỹ thuật xử lý dữ liệu hành chính công.
  4. Hiệp hội doanh nghiệp và các nhà đầu tư tại Gia Lai: Hiểu rõ bức tranh thực trạng cung - cầu nhân lực kỹ thuật của địa phương, từ đó chủ động đề xuất đơn đặt hàng đào tạo và tham gia sâu vào quy trình xây dựng chuẩn đầu ra của các nhà trường.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại Gia Lai lại có tính cấp thiết đặc biệt? Bởi vì Gia Lai có tới 44% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số và tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm 2017 mới chỉ đạt 31,5%. Trong khi đó, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tốc độ tăng trưởng GRDP 7,81%/năm đòi hỏi địa phương phải nhanh chóng giải quyết tình trạng thiếu hụt kỹ thuật viên và thợ lành nghề.

Bất cập lớn nhất trong phân bố mạng lưới cơ sở dạy nghề tại tỉnh Gia Lai là gì? Toàn tỉnh có 17 cơ sở dạy nghề nhưng phân bố rất không đồng đều, tập trung chủ yếu ở thành phố Pleiku và các thị xã. Đáng chú ý, có tới 7 huyện vùng sâu vùng xa hoàn toàn chưa có cơ sở dạy nghề độc lập, gây cản trở lớn cho việc tiếp cận học nghề của lao động nông thôn.

Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng mất cân đối nghiêm trọng giữa đào tạo nghề ngắn hạn và dài hạn? Khảo sát thực tế chỉ ra có 77,2% phụ huynh và 73,5% học sinh có tâm lý chuộng bằng cấp đại học hơn học nghề. Do đó, người dân chủ yếu chỉ đăng ký các lớp đào tạo ngắn hạn dưới 3 tháng (chiếm tới 97,42% nhu cầu), khiến tỷ lệ đào tạo trung cấp nghề chỉ đạt 0,74%.

Tỉnh Gia Lai đã đạt được kết quả nổi bật nào trong công tác cải cách hành chính về quản lý đào tạo nghề? Địa phương đã rút ngắn thời gian tiếp nhận văn bản của các cơ sở dạy nghề từ 3,5 ngày xuống còn 1,5 ngày. Đồng thời, số đợt tuyên truyền phổ biến pháp luật tăng lên 18 lần/năm, giúp nâng tỷ lệ đối tượng nắm bắt quy định pháp luật đạt mức 85% vào năm 2017.

Mô hình đào tạo nào được chứng minh là phù hợp nhất với lao động dân tộc thiểu số tại vùng Tây Nguyên? Đó là mô hình đào tạo lưu động trực tiếp tại nhà văn hóa thôn làng theo phương thức "cầm tay chỉ việc", gắn nội dung học với các nghề thế mạnh nông nghiệp như kinh nghiệm tại Kon Tum và mô hình trồng nấm cho thu nhập 4-5 triệu đồng/tháng tại Đắk Lắk.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đào tạo nghề gắn với các lý thuyết quản trị và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng dân tộc thiểu số.
  • Phân tích chi tiết thực trạng quản lý đào tạo nghề tại Gia Lai giai đoạn 2013-2017, ghi nhận kết quả nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 31,5% với 10.298 người được đào tạo năm 2017.
  • Chỉ rõ 3 nút thắt trọng yếu: khoảng trống mạng lưới tại 7 huyện khó khăn, 97,42% người học chỉ tham gia các lớp ngắn hạn dưới 3 tháng, và 77,2% phụ huynh vẫn nặng định kiến bằng cấp.
  • Tổng kết sâu sắc các bài học kinh nghiệm từ mô hình đào tạo lưu động tại Kon Tum, mô hình nông nghiệp giá trị cao tại Đắk Lắk và liên kết doanh nghiệp tại Đà Nẵng, Đồng Nai.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về hoàn thiện chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, xóa điểm trắng mạng lưới đào tạo và chuẩn hóa kiểm tra giám sát giai đoạn 2019-2025.

Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà quản lý và nhà nghiên cứu trong việc hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại vùng Tây Nguyên. Bạn đọc có thể ứng dụng các đề xuất của luận văn để thúc đẩy hiện đại hóa công tác giáo dục nghề nghiệp tại địa phương ngay hôm nay.