CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ CHỢ 1. TÔNG QUAN VỀ CHỢ VÀ QUẢN LÝ CHỢ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của chợ trong đời sống xã hội a. Khai niệm chợ.
Sự ra đời và phát triển của chợ gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, tính chất xã hội hóa của nền sản xuất ngày càng cao, sự phân công xã hội ngày càng sâu sắc thì nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng lớn và chợ với tư cách là nơi trao đổi hàng hóa, dịch vụ sẽ ngày càng phát triển. Trong tiếng Anh, thì “chợ” và “thị trường” đều được gọi chung là “market”. Như vậy, có thể nói rằng, chợ chính là thị trường, là hình ảnh trực quan, nhưng cô đọng và tập trung nhất của thị trường. Chợ nằm trong hệ thống thị trường và khái niệm chợ nằm trong phạm vi của khái niệm thị trường.
Trong hệ thống thị trường hiện nay, chợ truyền thống được xếp vào loại thị trường hàng hoá giao ngay, ở đó người bán và người mua đàm phán, mặc cả trực tiếp, người mua tiếp cận trực tiếp với hàng hoá, thoả thuận xong là giao nhận hàng và thanh toán, không sử dụng công nghệ hoặc thiết bị tân tiến nào cả, khối lượng giao dịch thường là nhỏ và phương thức thanh toán duy nhất là trả bằng tiền mặt Theo cách hiểu thông thường và được sử dụng phổ biến trong thực tế, chợ là “nơi tập trung nhiều người tụ họp đề trao đổi, mua bán hàng hóa hàng ngày hoặc vào một ngày theo phiên nhất định "[L]. Khái niệm này cũng gần gũi với khái niệm thị trường trong Từ điển Kinh tế học hiện đại: “7h ưởng là bắt kỳ khung cảnh không gian nào đó điền ra việc mua bán các loại hàng hoá và dịch vụ "[9]. Hai khái niệm này đều đề cập đến “nơi hay “khung cảnh không gian” và ở đó diễn ra việc “mua, bán” hàng hóa. Chính vì sự tương đương giữa hai khái niệm này, mà chợ và thị trường trong nhiều trường hợp 10 cũng được coi là đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa.
Từ góc độ quản lí Nhà nước, khái niệm về chợ được hiểu như sau: Chợ là một địa điểm công cộng, có diện tích mặt bằng khá lớn, tập trung các hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ của nhiều chủ thể khác nhau. Chợ được tổ chức theo quy luật lưu thông hàng hóa, phù hợp với như câu, đặc điểm, tập quán, điều kiện kinh tế và được quán lí thống nhất theo pháp luật hiện hành của Nhà nước. Trong luận văn này, khái niệm chợ được hiễu theo định nghĩa đã được trình bày ở trên. Đặc điểm của chợ + Là loại hình thương nghiệp truyền thống.
+ Nó là nơi diễn ra các hoạt động mua bán của nhiều thành phần kinh tế trong đó đa phần là kinh tế các thé + Đối tượng trao đổi chủ yếu là các hàng hóa tiêu dùng hàng ngày và nhằm phục vụ cho đời sống của các đối tượng dân cư. + Địa điểm tô chức chợ là nơi cố định được chính quyền cho phép. + Các hoạt động của chợ phải tuân theo sự quản lí của Nhà nước và địa phương và tục lệ của người dân sở tại. Phân loại chợ.
Theo quy định tại Nghị định Số: 11/VBHN-BCT ngày 23 tháng Ì năm 2014 về phát triển và quản lý chợ phân loại chợ theo tính chất hoạt động có các loại như sau: “(1) Chợ đầu mối: “là chợ có vai trò chủ yếu thu hút, tập trung lượng hàng hóa lớn từ các nguồn sản xuắt, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng đề tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác”; (2) Chợ kiên cố: “là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử dụng trên 10 năm”; (3) Chợ bán kiên cố: "là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử ll dụng từ 5 đến 10 năm”: (4) Chợ chuyên doanh: *là chợ kinh doanh chuyên biệt một ngành hàng hoặc một số ngành hàng có đặc thù và tính chất riêng”; (5) Chợ tổng hợp: “là chợ kinh doanh nhiều ngành hàng”: (6) Chợ dân sinh: “là chợ hạng 3 (do xã, phường quản lý) kinh doanh những mặt hàng thông dụng và thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày của người dân”; (7) Chợ biên “là chợ nằm trong khu vực biên giới trên đất liền (gồm xã, phường, thị trần có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền) hoặc khu vực biên giới trên biển (tính từ biên giới quốc gia trên biển vào. hết địa giới hành chính xã, phường, thị tran giáp biển và đảo, quần đảo)”; (§) Chợ tạm: “là chợ nằm trong quy hoạch nhưng chưa được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố”: (9) Chợ nông thôn: *là chợ thuộc xã của các huyện và ở các khu vực ngoại thành, ngoại thị”: (10) Chợ miễn nị "là chợ xã thuộc các huyện miền núi”; (11) Chợ cửa khẩu: “là chợ được lập ra trong khu vực biên giới trên đất liền hoặc trên biển gần các cửa khâu xuất khẩu, nhập khâu hàng hóa nhưng không thuộc khu kinh tế cửa khẩu”; (12) Chợ trong khu kinh tế cửa khẩu: “là chợ lập ra trong khu kinh tế cửa khâu theo các điều kiện, trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuấ và khu kinh tế”. Phân hạng chợ theo quy mô được quy định bởi Nghị định Số: 11/VBHN-BCT ngày 23 tháng I nam 2014 về phát triển và quản lÿ chợ: - Chợ hạng 1: “ Là chợ do Tinh, Thành phó quản lý, có trên 400 điểm. kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạc: lược đặt ở vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực và được họp thường xuyên; có mặt bằng phù hợp với quy mô hoạt động của chợ (chỉ tiêu sử dụng đắt tối thiểu từ 12mẺ đất trên một điểm kinh doanh; tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc 12 xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác”; - Chợ hạng 2: “Là chợ do cấp quận, huyện, thị xã quản lý; có từ 200 điểm kinh doanh đến 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên có theo quy hoạch; được đặt ở vị trí trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực, được tô chức họp chợ thường xuyên hoặc không thường xuyên; có mặt bằng phù hợp với quy mô hoạt động của chợ (chỉ tiêu sử dụng đất tối thiểu từ 15mỶ đất trên một điểm kinh doanh; tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường, vệ sinh công cộng”; - Chợ hạng 3: “Là chợ do cấp xã, phường, thị trấn quản lý; có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư kiên có hoặc bán kiên ; chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hóa của nhân dân trong xã, phường và vùng phụ cận”.
4k Vai trò của chợ Đến thời điểm hiện tại, mặc dù mạng lưới siêu thị và trung tâm thương. mại đã phát triển nhanh chóng va phan nao thay thế cho chợ truyền thống, song hệ thống chợ ở nước ta vẫn đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội thể hiện trên các mặt sau đây: ~ VỀ mặt kinh “Chợ vừa là nơi tiêu thụ nông sản hàng hoá, tập trung thu gom các sản phẩm, hàng hoá phân tán, nhỏ lẻ để cung ứng cho các thị trường tiêu thụ lớn trong và ngoài nước, vừa là nơi cung ứng hàng công nghiệp tiêu dùng cho nông dân và một số loại vật tư cho sản xuất nông nghiệp ở nông thôn. Hoạt động của các chợ làm tăng ý thức về kinh tế hàng hoá của người dân, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần tích cực vào công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, miền núi”. ~_ Lễ giải quyết việc làm: “Chợ ở nước ta đã giải quyết được một số lượng lớn việc làm cho người lao động.
Hiện nay, trên toàn quốc có hơn 2,3 triệu 13 người lao động buôn bán trong các chợ và số người tăng thêm có thể tới 10%/năm. Nếu mỗi người trực tiếp buôn bán có thêm 1 đến 2 người giúp việc (phụ việc bán hàng, tổ chức nguồn hàng đề đưa về chợ, đưa hàng tới các mối tiêu thụ theo yêu cầu của khách.) thì số người lao động có việc tại chợ sẽ gấp đôi, gấp ba lần số lượng người chỉ buôn bán ở chợ, và như thế chợ giải quyết được một số lượng lớn công việc cho người lao động khi hoạt động”. - Về việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc: * Có thê nói, chợ là một bộ mặt kinh tế - xã hội của một địa phương và là nơi phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của một vùng dân cư. Đặc biệt, tính văn hoá ở chợ được thể hiện rõ nhất là ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa.
Đồng bào n chợ ngoài mục tiêu mua bán còn lấy chợ làm nơi giao gỡ, thăm hỏi người thân, trao đổi công việc, kế cả việc dựng vợ ga cl con cái. Chợ còn là nơi hò hẹn của lứa đôi, vì vậy người dân miền núi thường gọi là đi "chơi chợ" thay cho từ đi chợ mua sắm như là người dưới xuôi thường gọi. Các phiên chợ này thường tồn tại từ rất lâu đời, và nó là những bản sắc văn hoá vô cùng đặc trưng của các dân tộc ở nước ta”. Đối với chính quyên: “chợ là nơi phố biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi tuyên truyền cảnh giác và đấu tranh với những phần tử xuyên tạc đường lối của Đảng.
Từ phong trào kế hoạch hoá gia đình đến kỹ thuật chăm sóc cây trồng vật nu vệ sinh phòng dịch. đều có thể được phổ biến một cách hiệu quả ở đây. Chính vì lý do đó, chợ miền núi hay miền xuôi đều được bố trí ở trung tâm cụm, xã (nhất là miền núi). Trong mỗi chợ đều giành vị trí trung tâm làm công tác tuyên truyền”.
Khái niệm quản lý nhà nước đối với chợ Quản lý kinh tế là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong qúa trình tiến hành các hoạt động kinh tế nhằm đạt tới mục tiêu kinh tế 14 — xã hội đã đặt ra.