Luận văn Thạc sĩ: Quản lý nhà nước về chợ tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý kinh tế và nhà nước về chợ tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc và giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
129
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò của quản lý nhà nước về chợ huyện Đại Lộc Quảng Nam

Chợ là một bộ phận không thể tách rời trong kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Quảng Nam nói chung và kinh tế huyện Đại Lộc nói riêng. Luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước về Chợ trên địa bàn huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam” của tác giả Dương Lệ Duyên đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, khẳng định tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước về kinh tế đối với hệ thống chợ. Hiện nay, trên địa bàn huyện Đại Lộc có 18 chợ, bao gồm 1 chợ hạng II và 17 chợ hạng III, thu hút khoảng 2.930 hộ kinh doanh. Các chợ truyền thốngchợ dân sinh không chỉ là nơi lưu thông, phân phối hàng hóa, tiêu thụ nông sản mà còn là nơi giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương. Do đó, việc hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về chợ trên địa bàn huyện Đại Lộc là nhiệm vụ cấp thiết, nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, tăng nguồn thu từ chợ, và góp phần xây dựng văn minh thương mại, ổn định đời sống nhân dân. Một hệ thống quản lý hiệu quả sẽ đảm bảo các chợ hoạt động theo đúng quy hoạch, đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn và vệ sinh, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của toàn khu vực.

1.1. Tầm quan trọng của chợ truyền thống trong kinh tế địa phương

Các chợ truyền thống tại Đại Lộc không chỉ là nơi mua bán. Chúng là trung tâm của đời sống cộng đồng, phản ánh văn hóa và tập quán địa phương. Theo luận văn, chợ là nơi tiêu thụ nông sản, thu gom hàng hóa phân tán từ vùng nông thôn và cung cấp hàng tiêu dùng thiết yếu. Hoạt động này thúc đẩy sản xuất, góp phần xóa đói giảm nghèo. Hơn 2,3 triệu lao động trên cả nước có việc làm liên quan đến chợ, cho thấy vai trò to lớn trong việc tạo ra an sinh xã hội. Đặc biệt, việc phát triển chợ nông thôn còn gắn liền với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, là điểm giao lưu, gặp gỡ của người dân.

1.2. Vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý và phát triển chợ

Chính quyền địa phương đóng vai trò hạt nhân trong việc định hướng, điều tiết và hỗ trợ hoạt động của các chợ. Vai trò của chính quyền địa phương thể hiện qua việc xây dựng quy hoạch mạng lưới chợ, ban hành chính sách phát triển chợ, và tổ chức bộ máy quản lý. Theo nghiên cứu, chính quyền cấp huyện có trách nhiệm trực tiếp trong việc phê duyệt nội quy, giám sát hoạt động của Ban quản lý chợ (BQL), và thực hiện các kế hoạch chuyển đổi mô hình quản lý chợ. Sự can thiệp và định hướng đúng đắn của nhà nước sẽ tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên và thúc đẩy hiệu quả quản lý chợ.

II. Thực trạng quản lý chợ và những thách thức tại huyện Đại Lộc

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, công tác quản lý nhà nước về chợ trên địa bàn huyện Đại Lộc vẫn còn đối mặt với không ít thách thức. Luận văn đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả quản lý. Thực trạng quản lý chợ cho thấy quá trình xã hội hóa đầu tư xây dựng còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi. Việc chuyển đổi mô hình quản lý chợ theo Quyết định số 02/2019/QĐ-UBND của tỉnh Quảng Nam diễn ra còn chậm, chưa có chợ nào hoàn thành việc chuyển đổi. Nhiều chợ được xây dựng khang trang nhưng không khai thác hết công năng, trong khi các chợ tự phát lại mọc lên gây mất mỹ quan đô thị và an toàn giao thông. Bên cạnh đó, các vấn đề về an toàn vệ sinh thực phẩm tại chợ, quản lý nguồn gốc hàng hóa, và công tác phòng chống cháy nổ tại chợ vẫn là những bài toán nan giải. Những hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm chính sách kêu gọi đầu tư chưa đủ hấp dẫn, sự thiếu đồng thuận của tiểu thương, và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý còn hạn chế.

2.1. Khó khăn trong việc chuyển đổi mô hình quản lý chợ hiện nay

Quá trình chuyển đổi mô hình quản lý chợ từ BQL (đơn vị sự nghiệp công lập) sang doanh nghiệp hoặc hợp tác xã gặp nhiều vướng mắc. Theo luận văn, các địa phương còn lúng túng trong việc sắp xếp nhân sự và định giá tài sản. Nhiều Ban quản lý chợ đang hoạt động theo cơ chế cũ, trong khi các chợ đã xuống cấp. Hơn nữa, các doanh nghiệp không mấy mặn mà với lĩnh vực này vì lợi nhuận thấp, quản lý phức tạp. Một rào cản lớn khác là sự thiếu đồng thuận từ các hoạt động của tiểu thương, những người lo ngại việc tăng phí và xáo trộn kinh doanh khi có nhà đầu tư mới.

2.2. Bất cập về cơ sở hạ tầng thương mại và chợ tự phát

Tình trạng cơ sở hạ tầng thương mại tại nhiều chợ trên địa bàn đã xuống cấp nhưng chưa được đầu tư tương xứng. Nguồn vốn chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách xã và khai thác quỹ đất, dẫn đến quy mô đầu tư còn nhỏ lẻ, manh mún. Việc thiết kế xây dựng chợ chưa có mô hình chuẩn, gây lãng phí và không khai thác hết công năng. Hệ quả là tình trạng chợ tự phát, chợ cóc hình thành ngày càng nhiều, đặc biệt tại các điểm nóng như ngã ba trường Nguyễn Trãi, chợ Ngã tư... gây mất trật tự, an toàn giao thông và cạnh tranh không lành mạnh với các chợ được quy hoạch.

2.3. Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm và phòng chống cháy nổ

Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại chợphòng chống cháy nổ tại chợ luôn là ưu tiên hàng đầu nhưng việc thực thi còn nhiều hạn chế. Kết quả kiểm tra của huyện giai đoạn 2016-2020 cho thấy vẫn còn tỷ lệ mẫu thực phẩm không đạt chuẩn (7,6% năm 2020). Việc quản lý nguồn gốc xuất xứ hàng hóa còn lỏng lẻo, chủ yếu dựa vào niềm tin. Về PCCC, mặc dù chưa có sự cố lớn, nhưng nguy cơ cháy nổ luôn tiềm ẩn do việc câu mắc điện tự phát, sắp xếp hàng hóa lấn chiếm lối thoát hiểm. Đây là những thách thức đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ và liên tục từ các cơ quan chức năng.

III. Phương pháp quy hoạch và chính sách đầu tư phát triển chợ

Để giải quyết các thách thức, việc nâng cao chất lượng quy hoạch và hoàn thiện chính sách là giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hàng đầu. Công tác quản lý nhà nước về chợ trên địa bàn huyện Đại Lộc cần bắt đầu từ một tầm nhìn chiến lược rõ ràng. Luận văn nhấn mạnh, quy hoạch mạng lưới chợ phải được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh và huyện. Việc xác định vị trí, quy mô chợ phải tính đến các yếu tố như mật độ dân cư, điều kiện giao thông và tiềm năng phát triển trong tương lai. Đồng thời, việc công khai, minh bạch quy hoạch và lấy ý kiến rộng rãi từ người dân, doanh nghiệp là yếu tố then chốt để đảm bảo tính khả thi. Song song với quy hoạch, việc xây dựng các chính sách phát triển chợ hấp dẫn, đặc biệt là chính sách xã hội hóa, sẽ tạo động lực thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách, góp phần xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại hiện đại và đồng bộ, đáp ứng nhu cầu phát triển của địa phương.

3.1. Tăng cường công tác rà soát và quản lý quy hoạch mạng lưới chợ

Cần thường xuyên rà soát, đánh giá lại thực trạng hệ thống chợ để điều chỉnh quy hoạch mạng lưới chợ cho phù hợp. Quá trình này phải ưu tiên đầu tư vào các xã đông dân cư, có đóng góp ngân sách lớn và thuận tiện cho việc kết nối giao thương. Theo Quyết định 3464/QĐ-UBND, huyện Đại Lộc được quy hoạch phát triển 26 chợ đến năm 2025. Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc lập quy hoạch chi tiết cho từng dự án, đảm bảo quỹ đất và các hạng mục phụ trợ là vô cùng cần thiết. Tất cả các dự án xây mới hoặc cải tạo lớn đều phải tuân thủ nghiêm ngặt quy hoạch đã được phê duyệt.

3.2. Xây dựng chính sách phát triển chợ và thu hút vốn đầu tư

Để giải quyết bài toán vốn, cần hoàn thiện các chính sách phát triển chợ theo hướng khuyến khích xã hội hóa. Cần có cơ chế minh bạch, bình đẳng, tạo thuận lợi về thủ tục đầu tư để thu hút doanh nghiệp, cá nhân tham gia xây dựng và khai thác chợ. Các chính sách có thể bao gồm ưu đãi về tiền thuê đất, thuế, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, và quy định rõ tỷ lệ vốn đối ứng của địa phương. Giai đoạn 2016-2020, tổng vốn đầu tư cho các chợ tại Đại Lộc là 57,4 tỷ đồng, trong đó vốn xã hội hóa và ngân sách xã chiếm gần 68%. Điều này cho thấy tiềm năng to lớn từ các nguồn lực ngoài nhà nước nếu có chính sách đủ mạnh.

IV. Bí quyết chuyển đổi mô hình và nâng cao hiệu quả quản lý chợ

Một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý trọng tâm là đẩy mạnh chuyển đổi mô hình quản lý chợ. Thay vì duy trì các Ban quản lý chợ hoạt động theo cơ chế bao cấp, việc chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã sẽ giúp nâng cao tính chuyên nghiệp, tự chủ và hiệu quả quản lý chợ. Kinh nghiệm từ các địa phương khác cho thấy, các chợ sau khi chuyển đổi thường hoạt động hiệu quả hơn, tăng nguồn thu từ chợ cho ngân sách và cải thiện chất lượng dịch vụ. Để quá trình quản lý nhà nước về chợ trên địa bàn huyện Đại Lộc thực hiện thành công việc này, cần xây dựng một lộ trình rõ ràng, công khai. Vai trò của chính quyền địa phương là then chốt trong việc đối thoại, tuyên truyền để tạo sự đồng thuận của tiểu thương, đồng thời lựa chọn những nhà đầu tư có năng lực thực sự. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý và tăng cường các dịch vụ hỗ trợ tại chợ cũng là yếu tố quyết định sự thành công.

4.1. Xây dựng lộ trình chuyển đổi mô hình quản lý chợ phù hợp

Huyện cần xây dựng kế hoạch cụ thể theo từng năm và giai đoạn 5 năm để thực hiện việc chuyển đổi mô hình quản lý chợ theo Quyết định số 02/2019/QĐ-UBND. Cần rà soát, đánh giá toàn diện hiện trạng của từng chợ để lựa chọn phương án chuyển đổi khả thi, phù hợp với đặc điểm địa phương. Quá trình này phải được thực hiện công khai, dân chủ, đặc biệt là lấy ý kiến của các hộ tiểu thương về phương án sắp xếp, giá thuê điểm kinh doanh để tạo sự đồng thuận, tránh phát sinh khiếu kiện.

4.2. Nâng cao năng lực hoạt động của tiểu thương và ban quản lý chợ

Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố cốt lõi. Cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về văn minh thương mại, kỹ năng bán hàng, quy định về an toàn thực phẩm cho các hoạt động của tiểu thương. Đối với đội ngũ quản lý, dù là Ban quản lý chợ hay doanh nghiệp, cần được đào tạo về nghiệp vụ quản lý hiện đại, kỹ năng giải quyết xung đột và kiến thức pháp luật. Một đội ngũ chuyên nghiệp sẽ góp phần xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, trật tự và hiệu quả.

4.3. Phát triển các dịch vụ hỗ trợ và xây dựng văn minh thương mại

Để nâng cao sức cạnh tranh cho chợ truyền thống, cần đầu tư phát triển các dịch vụ hỗ trợ như trông giữ xe, bốc xếp, kho bãi, cung cấp thông tin thị trường. Đặc biệt, việc xây dựng và duy trì các tiêu chí về văn minh thương mại là rất quan trọng. Điều này bao gồm việc niêm yết giá rõ ràng, cân đo chính xác, giao tiếp lịch sự, và giữ gìn vệ sinh chung. Chợ Ái Nghĩa, với mục tiêu đạt chuẩn chợ văn minh đô thị, là một mô hình điển hình mà các chợ khác trên địa bàn có thể học hỏi.

V. Kết quả thực tiễn và kinh nghiệm quản lý chợ tại huyện Đại Lộc

Phân tích thực trạng quản lý chợ tại Đại Lộc giai đoạn 2016-2020 cho thấy những nỗ lực đáng ghi nhận của chính quyền địa phương. Công tác quản lý nhà nước về chợ trên địa bàn huyện Đại Lộc đã được triển khai thông qua việc lồng ghép các chương trình, kế hoạch cụ thể. Luận văn của Dương Lệ Duyên chỉ ra rằng, công tác đầu tư xây dựng đã có những bước tiến, với 6/18 chợ được xây mới và cải tạo, nâng cấp. Các mô hình quản lý đa dạng, từ Ban quản lý chợ, Tổ quản lý đến Hợp tác xã, đã được áp dụng. Đặc biệt, các chợ do HTX quản lý như chợ Phú Thuận, chợ Đại Minh, chợ Hà Nha hoạt động khá hiệu quả, cơ sở vật chất khang trang, đảm bảo các tiêu chí nông thôn mới. Công tác kiểm tra, giám sát về an toàn vệ sinh thực phẩm tại chợ, PCCC và an ninh trật tự được duy trì thường xuyên, góp phần ổn định hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, kết quả khảo sát mức độ hài lòng của tiểu thương và cán bộ cho thấy vẫn còn nhiều điểm cần cải thiện, đặc biệt trong công tác công khai quy hoạch và chính sách đầu tư.

5.1. Đánh giá hiệu quả quản lý chợ qua các mô hình khác nhau

Hiện nay, huyện Đại Lộc áp dụng 3 hình thức quản lý chính: Ban quản lý chợ (BQL), Tổ quản lý (TQL) và Hợp tác xã (HTX). Thực tế cho thấy các chợ thực hiện mô hình HTX quản lý như Chợ Phú Thuận, Chợ Hà Nha... đều hoạt động hiệu quả hơn. Cơ sở vật chất được đầu tư tốt, vệ sinh môi trường đảm bảo, và giảm gánh nặng cho chính quyền xã. Ngược lại, một số chợ do BQL hoặc TQL điều hành vẫn còn những hạn chế về năng lực và cơ chế hoạt động. Đánh giá này là cơ sở quan trọng để đẩy nhanh lộ trình chuyển đổi mô hình quản lý chợ trong thời gian tới.

5.2. Công tác kiểm tra giám sát và xử lý vi phạm tại các chợ

Trong giai đoạn 2016-2020, huyện đã tổ chức 26 lượt kiểm tra tại các chợ, tập trung vào các vấn đề như vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, và niêm yết giá. Hầu hết các vi phạm đều ở mức độ nhắc nhở. Công tác đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ tại chợ được thực hiện tốt, không có sự cố nghiêm trọng xảy ra. Tuy nhiên, theo khảo sát, số lần kiểm tra được cho là còn ít và chưa đồng đều giữa các chợ. Do đó, cần tăng cường tần suất và tính nhất quán trong công tác thanh tra, kiểm tra để nâng cao tính răn đe và hiệu lực quản lý.

VI. Hướng đi tương lai cho quản lý nhà nước về chợ huyện Đại Lộc

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về chợ trên địa bàn huyện Đại Lộc trong giai đoạn đến năm 2025 và định hướng 2030. Tương lai của hệ thống chợ Đại Lộc gắn liền với sự phát triển chung của kinh tế huyện Đại Lộc và xu hướng tiêu dùng hiện đại. Do đó, hướng đi chính là kết hợp hài hòa giữa việc bảo tồn giá trị của chợ truyền thống và áp dụng các phương thức quản lý tiên tiến. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế, chính sách, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư, và quyết liệt thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý chợ. Đồng thời, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ cán bộ quản lý đến tiểu thương, và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và quảng bá. Việc phát triển chợ nông thôn phải gắn liền với chương trình xây dựng Nông thôn mới, biến chợ không chỉ là nơi mua bán mà còn là động lực thúc đẩy kinh tế và văn hóa địa phương.

6.1. Tổng hợp các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chợ

Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý được đề xuất bao gồm 7 nhóm chính: (1) Nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý quy hoạch; (2) Hoàn thiện chính sách đầu tư xây dựng, đặc biệt là xã hội hóa; (3) Tăng cường quản lý và đẩy nhanh chuyển đổi mô hình chợ; (4) Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho đơn vị quản lý; (5) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; (6) Tăng cường kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm; (7) Hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

6.2. Định hướng phát triển chợ nông thôn gắn với nông thôn mới

Việc phát triển chợ nông thôn phải được xem là một tiêu chí và cũng là động lực của chương trình xây dựng nông thôn mới. Cần lồng ghép các nguồn vốn từ chương trình này để đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng thương mại cho các chợ xã. Một khu chợ nông thôn đạt chuẩn không chỉ đáp ứng nhu cầu dân sinh mà còn giúp tiêu thụ nông sản, tạo việc làm tại chỗ, tăng thu ngân sách và góp phần xây dựng diện mạo nông thôn mới văn minh, hiện đại.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về chợ trên địa bàn huyện đại lộc tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ CHỢ 1. TÔNG QUAN VỀ CHỢ VÀ QUẢN LÝ CHỢ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của chợ trong đời sống xã hội a. Khai niệm chợ.

Sự ra đời và phát triển của chợ gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, tính chất xã hội hóa của nền sản xuất ngày càng cao, sự phân công xã hội ngày càng sâu sắc thì nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng lớn và chợ với tư cách là nơi trao đổi hàng hóa, dịch vụ sẽ ngày càng phát triển. Trong tiếng Anh, thì “chợ” và “thị trường” đều được gọi chung là “market”. Như vậy, có thể nói rằng, chợ chính là thị trường, là hình ảnh trực quan, nhưng cô đọng và tập trung nhất của thị trường. Chợ nằm trong hệ thống thị trường và khái niệm chợ nằm trong phạm vi của khái niệm thị trường.

Trong hệ thống thị trường hiện nay, chợ truyền thống được xếp vào loại thị trường hàng hoá giao ngay, ở đó người bán và người mua đàm phán, mặc cả trực tiếp, người mua tiếp cận trực tiếp với hàng hoá, thoả thuận xong là giao nhận hàng và thanh toán, không sử dụng công nghệ hoặc thiết bị tân tiến nào cả, khối lượng giao dịch thường là nhỏ và phương thức thanh toán duy nhất là trả bằng tiền mặt Theo cách hiểu thông thường và được sử dụng phổ biến trong thực tế, chợ là “nơi tập trung nhiều người tụ họp đề trao đổi, mua bán hàng hóa hàng ngày hoặc vào một ngày theo phiên nhất định "[L]. Khái niệm này cũng gần gũi với khái niệm thị trường trong Từ điển Kinh tế học hiện đại: “7h ưởng là bắt kỳ khung cảnh không gian nào đó điền ra việc mua bán các loại hàng hoá và dịch vụ "[9]. Hai khái niệm này đều đề cập đến “nơi hay “khung cảnh không gian” và ở đó diễn ra việc “mua, bán” hàng hóa. Chính vì sự tương đương giữa hai khái niệm này, mà chợ và thị trường trong nhiều trường hợp 10 cũng được coi là đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa.

Từ góc độ quản lí Nhà nước, khái niệm về chợ được hiểu như sau: Chợ là một địa điểm công cộng, có diện tích mặt bằng khá lớn, tập trung các hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ của nhiều chủ thể khác nhau. Chợ được tổ chức theo quy luật lưu thông hàng hóa, phù hợp với như câu, đặc điểm, tập quán, điều kiện kinh tế và được quán lí thống nhất theo pháp luật hiện hành của Nhà nước. Trong luận văn này, khái niệm chợ được hiễu theo định nghĩa đã được trình bày ở trên. Đặc điểm của chợ + Là loại hình thương nghiệp truyền thống.

+ Nó là nơi diễn ra các hoạt động mua bán của nhiều thành phần kinh tế trong đó đa phần là kinh tế các thé + Đối tượng trao đổi chủ yếu là các hàng hóa tiêu dùng hàng ngày và nhằm phục vụ cho đời sống của các đối tượng dân cư. + Địa điểm tô chức chợ là nơi cố định được chính quyền cho phép. + Các hoạt động của chợ phải tuân theo sự quản lí của Nhà nước và địa phương và tục lệ của người dân sở tại. Phân loại chợ.

Theo quy định tại Nghị định Số: 11/VBHN-BCT ngày 23 tháng Ì năm 2014 về phát triển và quản lý chợ phân loại chợ theo tính chất hoạt động có các loại như sau: “(1) Chợ đầu mối: “là chợ có vai trò chủ yếu thu hút, tập trung lượng hàng hóa lớn từ các nguồn sản xuắt, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng đề tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác”; (2) Chợ kiên cố: “là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử dụng trên 10 năm”; (3) Chợ bán kiên cố: "là chợ được xây dựng bảo đảm có thời gian sử ll dụng từ 5 đến 10 năm”: (4) Chợ chuyên doanh: *là chợ kinh doanh chuyên biệt một ngành hàng hoặc một số ngành hàng có đặc thù và tính chất riêng”; (5) Chợ tổng hợp: “là chợ kinh doanh nhiều ngành hàng”: (6) Chợ dân sinh: “là chợ hạng 3 (do xã, phường quản lý) kinh doanh những mặt hàng thông dụng và thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày của người dân”; (7) Chợ biên “là chợ nằm trong khu vực biên giới trên đất liền (gồm xã, phường, thị trần có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền) hoặc khu vực biên giới trên biển (tính từ biên giới quốc gia trên biển vào. hết địa giới hành chính xã, phường, thị tran giáp biển và đảo, quần đảo)”; (§) Chợ tạm: “là chợ nằm trong quy hoạch nhưng chưa được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố”: (9) Chợ nông thôn: *là chợ thuộc xã của các huyện và ở các khu vực ngoại thành, ngoại thị”: (10) Chợ miễn nị "là chợ xã thuộc các huyện miền núi”; (11) Chợ cửa khẩu: “là chợ được lập ra trong khu vực biên giới trên đất liền hoặc trên biển gần các cửa khâu xuất khẩu, nhập khâu hàng hóa nhưng không thuộc khu kinh tế cửa khẩu”; (12) Chợ trong khu kinh tế cửa khẩu: “là chợ lập ra trong khu kinh tế cửa khâu theo các điều kiện, trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuấ và khu kinh tế”. Phân hạng chợ theo quy mô được quy định bởi Nghị định Số: 11/VBHN-BCT ngày 23 tháng I nam 2014 về phát triển và quản lÿ chợ: - Chợ hạng 1: “ Là chợ do Tinh, Thành phó quản lý, có trên 400 điểm. kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạc: lược đặt ở vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực và được họp thường xuyên; có mặt bằng phù hợp với quy mô hoạt động của chợ (chỉ tiêu sử dụng đắt tối thiểu từ 12mẺ đất trên một điểm kinh doanh; tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc 12 xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác”; - Chợ hạng 2: “Là chợ do cấp quận, huyện, thị xã quản lý; có từ 200 điểm kinh doanh đến 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên có theo quy hoạch; được đặt ở vị trí trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực, được tô chức họp chợ thường xuyên hoặc không thường xuyên; có mặt bằng phù hợp với quy mô hoạt động của chợ (chỉ tiêu sử dụng đất tối thiểu từ 15mỶ đất trên một điểm kinh doanh; tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường, vệ sinh công cộng”; - Chợ hạng 3: “Là chợ do cấp xã, phường, thị trấn quản lý; có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư kiên có hoặc bán kiên ; chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hóa của nhân dân trong xã, phường và vùng phụ cận”.

4k Vai trò của chợ Đến thời điểm hiện tại, mặc dù mạng lưới siêu thị và trung tâm thương. mại đã phát triển nhanh chóng va phan nao thay thế cho chợ truyền thống, song hệ thống chợ ở nước ta vẫn đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội thể hiện trên các mặt sau đây: ~ VỀ mặt kinh “Chợ vừa là nơi tiêu thụ nông sản hàng hoá, tập trung thu gom các sản phẩm, hàng hoá phân tán, nhỏ lẻ để cung ứng cho các thị trường tiêu thụ lớn trong và ngoài nước, vừa là nơi cung ứng hàng công nghiệp tiêu dùng cho nông dân và một số loại vật tư cho sản xuất nông nghiệp ở nông thôn. Hoạt động của các chợ làm tăng ý thức về kinh tế hàng hoá của người dân, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần tích cực vào công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, miền núi”. ~_ Lễ giải quyết việc làm: “Chợ ở nước ta đã giải quyết được một số lượng lớn việc làm cho người lao động.

Hiện nay, trên toàn quốc có hơn 2,3 triệu 13 người lao động buôn bán trong các chợ và số người tăng thêm có thể tới 10%/năm. Nếu mỗi người trực tiếp buôn bán có thêm 1 đến 2 người giúp việc (phụ việc bán hàng, tổ chức nguồn hàng đề đưa về chợ, đưa hàng tới các mối tiêu thụ theo yêu cầu của khách.) thì số người lao động có việc tại chợ sẽ gấp đôi, gấp ba lần số lượng người chỉ buôn bán ở chợ, và như thế chợ giải quyết được một số lượng lớn công việc cho người lao động khi hoạt động”. - Về việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc: * Có thê nói, chợ là một bộ mặt kinh tế - xã hội của một địa phương và là nơi phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của một vùng dân cư. Đặc biệt, tính văn hoá ở chợ được thể hiện rõ nhất là ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa.

Đồng bào n chợ ngoài mục tiêu mua bán còn lấy chợ làm nơi giao gỡ, thăm hỏi người thân, trao đổi công việc, kế cả việc dựng vợ ga cl con cái. Chợ còn là nơi hò hẹn của lứa đôi, vì vậy người dân miền núi thường gọi là đi "chơi chợ" thay cho từ đi chợ mua sắm như là người dưới xuôi thường gọi. Các phiên chợ này thường tồn tại từ rất lâu đời, và nó là những bản sắc văn hoá vô cùng đặc trưng của các dân tộc ở nước ta”. Đối với chính quyên: “chợ là nơi phố biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi tuyên truyền cảnh giác và đấu tranh với những phần tử xuyên tạc đường lối của Đảng.

Từ phong trào kế hoạch hoá gia đình đến kỹ thuật chăm sóc cây trồng vật nu vệ sinh phòng dịch. đều có thể được phổ biến một cách hiệu quả ở đây. Chính vì lý do đó, chợ miền núi hay miền xuôi đều được bố trí ở trung tâm cụm, xã (nhất là miền núi). Trong mỗi chợ đều giành vị trí trung tâm làm công tác tuyên truyền”.

Khái niệm quản lý nhà nước đối với chợ Quản lý kinh tế là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong qúa trình tiến hành các hoạt động kinh tế nhằm đạt tới mục tiêu kinh tế 14 — xã hội đã đặt ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ