Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý chi NSNN cấp xã tại Việt Nam. Thực trạng quản lý chỉ ngân sách cấp xã trên địa bàn huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Giải pháp hoàn thiện quản lý chỉ ngân sách cấp xã trên địa bàn huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.
12 CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN QUAN LY CHI NGAN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. KHÁI QUÁT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Ngân sách nhà nước a. Khái niệm ngân sách Nhà nước Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" từ trước đến nay được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia.
Song khái niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu. Có quan điểm, ngân sách nhà nước là bản dự trù thu, chỉ tài chính của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Quan điểm này đúng về mặt hình thức, đã mô tả mặt thực thể vật chất của NSNN; tuy nhiên chưa thể hiện được vị trí của NSNN. Cũng có quan điểm thứ hai, ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của nhà nước.
Quan điểm này đã mô tả mặt cụ thể, mặt vật chất của NSNN đồng thời thể hiện vị trí NSNN so với các quỹ tiền tệ khác. Tuy nhiên, quan điểm này cũng chưa thể hiện được nội dung kinh tế - xã hội của NSNN. Quan điểm thứ ba, ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau. Quan điểm này đã nêu bật được NSNN chứa đựng các quan hệ kinh tế, tuy nhiên lại không nói lên được thực thể vật chất NSNN là gì.
Theo quan điểm của Đặng Văn Du, Bùi Tiến Hanh (2010), “NSNN la quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Quỹ này thể hiện lượng tiền huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chỉ tiêu của Nhà nước, có hai 13 mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động. Mặt tĩnh thể hiện các nguôn tài chính được tập trung vào NSNN mà chúng ta có thê xác định được vào bắt kỳ thời điểm nào. Mặt động thể hiện các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với.
quỹ tiền tệ tập trung vào NSNN và từ NSNN phân bồ các nguôn tài chính cho các ngành, các lĩnh vực, các địa phương của nên kinh tế quốc dân ” [12]. “NSNN là một phạm trù kinh t tài chính, được coi là một hệ thống quan hệ kinh tế tồn tại khách quan. Hệ thống các quan hệ kinh tế này được đặc trưng bởi quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối các nguôn tài chính và bằng các quan hệ kinh tế đó mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được tạo lập và sử dụng. Hệ thống các quan hệ kinh tế này bao gồm: Quan hệ kinh tế giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp; Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính sự nghiệp; Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư; Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính” [12] Luật NSNN số 83/2015/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25/6/2015 định nghĩa: “SN là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Vai trò của ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước là khâu tài chính tập trung quan trọng nhất, là kế hoạch tài chính cơ bản, tổng hợp của Nhà nước. Nó giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của Nhà nước theo từng giai đoạn nhất định. NSNN có chức năng huy động nguồn lực tài chính để hình thành các quỹ tiền tệ tập trung, đảm bảo các nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước.
Đồng thời NSNN còn thực hiện cân đối bằng tiền giữa các khoản thu và các khoản chỉ tiêu của Nhà nước. Vai trò của Ngân 14 sách nhà nước được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn cụ thể. Phát huy vai trò của Ngân sách nhà nước như thế nào là thước đo đánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo của Nhà nước. Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định.
hướng hình thành cơ cầu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. Vai trò đó đã được thể hiện cụ thể ở các lĩnh vực sau: ~ Về mặt kinh tế: Kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo sự định hướng. phát triển kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế và thuế suất của nhà nước. sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp.
Ngoài ra nhà nước còn dùng ngân sách nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động. - Về mặt xã hội: Điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Thông qua hoạt động thu, chỉ NSNN cấp phát kinh phí cho tất cả các lĩnh vực hoạt động vì mục đích phúc lợi xã hội. ~ Về mặt thị trường: Nhà nước sẽ sử dụng ngân sách nhà nước như một công cụ để góp phần bình ồn giá cả và kiềm chế lam phát.
Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tính chất chiến lược. Co ch tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khâu, dự trữ quốc gia. Thị trường vốn sức lao động: Thông qua phát hành trái phiếu và chỉ tiêu của chính phủ. Kiềm chế lạm phát: Cùng với ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ thích hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chỉ tiêu của Chính phủ.
Ngoài ra, Ngân sách nhà nước còn có vai trò phân phối, huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước và thực hiện sự cân đối thu chỉ tài chính của Nhà nước. Đó là vai trò truyền thống của Ngân sách nhà nước. trong mọi mô hình kinh tế. Nó gắn chặt với các chỉ phí của Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.
Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính. 15 của Nhà nước góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế vĩ mô. Nhà nước sử dụng Ngân sách nhà nước như là công cụ tài chính để kiềm chế lạm phát, ôn định thị trường, giá cả cũng như giải quyết các nguy cơ tiềm ân về in định kinh tế xã hội. Ngân sách nhà nước còn là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm khuyết của kinh tế thị trường, đảm bảo.
công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thúc đây phát triển bền vững. Nhà nước sử dụng Ngân sách nhà nước thông qua công cụ là chính sách thuế khóa và chỉ tiêu công để phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ công cho xã hội, chú ý phát triển cân đối giữa các vùng, miền đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái. Vai trò của ngân sách nhà nước vô cùng quan trọng trong việc điều và quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, cần phải có sự cân bằng.
trong thu, chỉ ngân sách. Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam Từ khi nước ta được thành lập đến nay lịch sử hệ thống NSNN ở Việt Nam đã có 6 giai đoạn thay đổi về hệ thống ngân sách va phân cấp quản lý ngân sách, hệ thống NSNN ở Việt Nam đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện, phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cụ thể như sau: ~ Giai đoạn 1945 ~ 1972: Ngay sau ngày giành được độc lập, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã rất chú trọng đến việc xây dựng một hệ thống NSNN. Bởi vậy, một hệ thống NSNN gọn nhẹ với 2 cấp (ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương) đã được thiết lập; trong đó, nhiệm vụ quản lý NSNN được tập trung chủ yếu từ Chính phủ. - Giai đoạn 1973 — 1983: toàn thành được cả 2 mục tiêu cao cả là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, ngày 08/4/1972 Hội đồng Chính phủ đã thông qua Nghị định số 16 64-CP về việc Ban hành Điều lệ ngân sách xã.
Kẻ từ đó ngân sách xã đã trở thành một cấp ngân sách và được quản lý thống nhất khung pháp lý của NSNN. - Giai đoạn 1984 - 1989: Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị quyết số 138/HĐBT về cải tiến chế độ phân cấp quản lý ngân sách cho địa phương. Một trong những mục tiêu cơ bản mà Nghị quyết 138/HĐBT hướng tới là “. cẩn cải tiến việc xây dựng và quản lý ngân sách huyện (và đơn vị hành chính tương đương) để chính quyền huyện thật sự trở thành một cấp quản lý ngân sách.
Ngân sách xã là một bộ phận cấu thành của ngân sách huyện. Toàn bộ ngân sách địa phương (cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã) là một bộ phận cấu thành của NSNN”. Theo đó, mô hình hệ thống NSNN đây đủ 4 cấp đã được thể chế hóa và đi vào vận hành tương đối đồng bộ, nhằm hướng tới vừa tăng tiềm lực tài chính cho Chính phủ vừa phát huy quyền chủ động cho chính quyền địa phương. - Giai đoạn 1990 ~ 1996: Chính phủ đã có ý tưởng xem xét lại cơ cầu các cấp trong hệ thống NSNN theo hướng giảm bớt cấp ngân sách trung gian, cụ thể là ngân sách cấp huyện.
Theo đó, đã có một số địa phương được giao làm thí điểm mô hình tổ chức hệ thống NSNN không có ngân sách huyện, tuy nhiên, ý tưởng này không hợp lý và không thuyết phục được đa số các đại biểu Quốc hội khi thảo luận và biểu quyết thông qua Luật NSNN 1996.