Luận văn: Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội tại huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội tại huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai, góp phần nâng cao hiệu quả chính sách.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn
125
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội tại Chư Păh

Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế của tác giả Rơ Cham H’Phik cung cấp một cái nhìn sâu sắc về công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Đây là một nhiệm vụ trọng tâm, thể hiện rõ chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc đảm bảo an sinh xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau. Bảo trợ xã hội (BTXH) được hiểu là hệ thống các biện pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp các đối tượng yếu thế, gặp rủi ro trong cuộc sống để ổn định và hòa nhập. Tại huyện Chư Păh, một địa phương có 41 thôn, làng đặc biệt khó khăn và kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, vai trò của BTXH càng trở nên cấp thiết. Nghiên cứu chỉ ra rằng, giai đoạn 2016-2020, công tác này đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần cải thiện đời sống cho hàng ngàn người dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó, thực trạng quản lý nhà nước về BTXH vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả, đảm bảo chính sách đến đúng người, đúng thời điểm, góp phần vào mục tiêu giảm nghèo bền vữngphát triển kinh tế - xã hội huyện Chư Păh.

1.1. Vai trò của nhà nước trong an sinh xã hội tại địa phương

Trong hệ thống an sinh xã hội huyện Chư Păh, vai trò của nhà nước trong an sinh xã hội là không thể thiếu và mang tính quyết định. Quản lý nhà nước về BTXH là việc các cơ quan có thẩm quyền sử dụng quyền lực nhà nước, thông qua chính sách và pháp luật, để điều chỉnh các hoạt động trợ giúp xã hội. Vai trò này thể hiện ở hai khía cạnh chính. Thứ nhất, nhà nước tạo ra hành lang pháp lý thống nhất, đảm bảo các hoạt động BTXH được thực hiện một cách nghiêm túc, công bằng và minh bạch. Thứ hai, quản lý nhà nước thể hiện BTXH là một chủ trương lớn, một chính sách xã hội quan trọng, từ đó huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Theo luận văn, các cơ quan như UBND huyện Chư Păh và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội là những đơn vị nòng cốt, chịu trách nhiệm trực tiếp triển khai các chính sách xã hội tỉnh Gia Lai tại cơ sở.

1.2. Tổng quan các đối tượng bảo trợ xã hội ở Chư Păh

Huyện Chư Păh có một cơ cấu dân số đa dạng, trong đó nhóm đối tượng bảo trợ xã hội chiếm một tỷ lệ đáng kể. Theo số liệu từ Bảng 2.4 trong luận văn, tỷ lệ đối tượng BTXH so với tổng dân số toàn huyện dao động qua các năm, cho thấy sự biến động trong đời sống xã hội. Các nhóm đối tượng chính bao gồm người cao tuổi cô đơn, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng, và các hộ gia đình rơi vào hoàn cảnh khó khăn đột xuất do thiên tai, dịch bệnh. Luận văn của Rơ Cham H’Phik chỉ rõ, giai đoạn 2016-2020, huyện đã chi trả chế độ cho trung bình 2.247 người mỗi năm. Việc xác định đúng và đủ các đối tượng này là tiền đề quan trọng cho hiệu quả của công tác xã hội tại Chư Păh, đảm bảo phúc lợi xã hội được phân bổ công bằng và hợp lý.

II. Thực trạng quản lý nhà nước về BTXH huyện Chư Păh Hạn chế

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, thực trạng quản lý nhà nước về BTXH tại Chư Păh giai đoạn 2016-2020 vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn và vướng mắc, làm giảm hiệu quả chính sách bảo trợ xã hội. Luận văn chỉ ra một số hạn chế cốt lõi. Thứ nhất, hệ thống văn bản hướng dẫn đôi khi còn chung chung, chưa thực sự phù hợp với đặc thù địa phương, gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Thứ hai, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách chưa sâu rộng, dẫn đến tình trạng một bộ phận người dân, đặc biệt là ở các vùng sâu vùng xa, chưa nắm rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Thứ ba, quy trình, thủ tục hành chính còn rườm rà, chậm trễ, ảnh hưởng đến việc tiếp cận trợ giúp kịp thời của người dân. Cuối cùng, công tác thanh tra, kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên và chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe. Những hạn chế này là thách thức lớn đối với mô hình quản lý nhà nước về an sinh xã hội tại địa phương.

2.1. Phân tích hạn chế trong ban hành và phổ biến chính sách

Công tác ban hành văn bản quản lý và phổ biến chính sách xã hội tỉnh Gia Lai tại huyện Chư Păh còn nhiều điểm cần cải thiện. Về ban hành, các văn bản của huyện chủ yếu là cụ thể hóa chính sách từ cấp trên, chưa có nhiều văn bản mang tính đặc thù, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội riêng của huyện. Điều này dẫn đến việc áp dụng máy móc, thiếu linh hoạt. Về tuyên truyền, theo Bảng 2.10 của luận văn, dù có nhiều hình thức được triển khai nhưng tần suất và phạm vi còn hạn chế. Các kênh truyền thông hiện đại chưa được tận dụng tối đa, chủ yếu vẫn dựa vào các phương pháp truyền thống như họp dân, loa phát thanh. Kết quả là nhận thức của một bộ phận người dân và cả cán bộ cơ sở về các chính sách mới còn chưa đầy đủ, ảnh hưởng đến quá trình thực thi và giám sát chính sách cho người có công và các đối tượng khác.

2.2. Bất cập trong tổ chức bộ máy và chất lượng nguồn nhân lực

Tổ chức bộ máy thực hiện quản lý công về bảo trợ xã hội từ cấp huyện đến cấp xã còn một số bất cập. Sơ đồ tổ chức Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện Chư Păh (Hình 2.1) cho thấy cơ cấu đã được định hình, nhưng sự phối hợp giữa các bộ phận và với cấp xã đôi khi chưa nhịp nhàng. Đặc biệt, năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở là một vấn đề lớn. Theo Bảng 2.12, trình độ chuyên môn của nhân lực thực hiện công tác BTXH còn chưa đồng đều, một số cán bộ cấp xã chưa được đào tạo bài bản về công tác xã hội tại Chư Păh. Điều này dẫn đến những lúng túng trong việc xác định đối tượng, hướng dẫn hồ sơ và giải quyết các vấn đề phát sinh, trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ người dân.

2.3. Vấn đề trong quản lý thu chi và công tác thanh tra kiểm tra

Quản lý tài chính là khâu yếu trong công tác BTXH tại Chư Păh. Luận văn phân tích, việc lập dự toán thu-chi đôi khi chưa sát với thực tế, đặc biệt là việc huy động nguồn lực cho bảo trợ xã hội ngoài ngân sách nhà nước còn rất hạn chế. Công tác quyết toán còn chậm, quy trình chi trả trợ cấp cho các đối tượng bảo trợ xã hội đôi khi chưa kịp thời. Bên cạnh đó, hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa được coi trọng đúng mức. Bảng 2.22 cho thấy số cuộc thanh tra, kiểm tra giai đoạn 2016-2020 còn ít, chưa mang tính hệ thống. Việc thiếu giám sát thường xuyên tạo ra kẽ hở cho các sai phạm tiềm ẩn, làm suy giảm niềm tin của người dân vào tính minh bạch của chính sách.

III. Phương pháp hoàn thiện chính sách tổ chức bộ máy BTXH

Để giải quyết các tồn tại, luận văn đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ, bắt đầu từ việc hoàn thiện chính sách bảo trợ xã hội và kiện toàn tổ chức bộ máy. Mục tiêu là xây dựng một mô hình quản lý nhà nước linh hoạt, hiệu quả và gần dân hơn. Các giải pháp không chỉ tập trung vào việc sửa đổi quy định mà còn hướng đến việc thay đổi phương thức làm việc, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức trong hệ thống. Việc này đòi hỏi sự chỉ đạo quyết liệt từ UBND huyện Chư Păh, sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành, và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Trọng tâm của nhóm giải pháp này là làm cho chính sách thực sự đi vào cuộc sống, và bộ máy thực thi phải đủ mạnh để triển khai chính sách một cách hiệu quả, đảm bảo mọi người dân yếu thế đều nhận được sự quan tâm, hỗ trợ cần thiết từ nhà nước và xã hội.

3.1. Hoàn thiện công tác ban hành và tuyên truyền chính sách

Giải pháp đầu tiên và quan trọng nhất là cần chủ động hơn trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết, cụ thể hóa các chính sách xã hội tỉnh Gia Lai sao cho phù hợp với đặc thù của huyện Chư Păh. Cần rà soát, loại bỏ các quy định chồng chéo, không còn phù hợp. Song song đó, phải đổi mới toàn diện công tác tuyên truyền. Thay vì các hình thức truyền thống, cần đa dạng hóa các kênh thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội để đưa chính sách đến gần hơn với người dân. Nội dung tuyên truyền cần ngắn gọn, dễ hiểu, sử dụng cả tiếng phổ thông và tiếng dân tộc thiểu số. Mục tiêu là để mọi người dân, đặc biệt là các đối tượng bảo trợ xã hội, hiểu rõ quyền lợi của mình và chủ động tham gia giám sát việc thực thi.

3.2. Cải tổ bộ máy và nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ

Việc hoàn thiện tổ chức bộ máy hoạt động BTXH là yêu cầu cấp thiết. Cần rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của từng vị trí từ huyện đến xã để tránh chồng chéo, phân công trách nhiệm rõ ràng. Đặc biệt, phải chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội tại Chư Păh. Nội dung đào tạo cần tập trung vào các kỹ năng thực tiễn như xác minh đối tượng, tư vấn chính sách, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu. Một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, tận tâm chính là chìa khóa để nâng cao hiệu quả chính sách bảo trợ xã hội.

IV. Bí quyết tối ưu hóa quản lý tài chính cho bảo trợ xã hội

Quản lý tài chính minh bạch và hiệu quả là xương sống của hệ thống an sinh xã hội huyện Chư Păh. Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm tối ưu hóa việc quản lý thu-chi, đảm bảo nguồn lực cho bảo trợ xã hội được sử dụng đúng mục đích và mang lại lợi ích cao nhất. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước (NSNN), cần xây dựng cơ chế để đa dạng hóa nguồn thu, khuyến khích sự tham gia, đóng góp từ các doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cá nhân. Về quản lý chi, cần áp dụng công nghệ thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu đối tượng tập trung, giúp việc lập dự toán và quyết toán chính xác, nhanh chóng. Việc công khai, minh bạch các khoản thu, chi không chỉ giúp quản lý tốt hơn mà còn tăng cường sự giám sát từ cộng đồng, ngăn ngừa tiêu cực, lãng phí, và củng cố niềm tin của người dân vào các chính sách xã hội tỉnh Gia Lai.

4.1. Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn lực và đa dạng hóa nguồn thu

Để đảm bảo nguồn tài chính bền vững, huyện Chư Păh cần chủ động xây dựng kế hoạch huy động nguồn lực cho bảo trợ xã hội từ cộng đồng. Cần có chính sách khuyến khích, tôn vinh các cá nhân, tổ chức có đóng góp tích cực. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cần phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch nâng cao chất lượng lập dự toán thu-chi, đảm bảo các khoản chi được tính toán dựa trên nhu cầu thực tế và định mức quy định, tránh dàn trải. Việc quản lý chặt chẽ nguồn NSNN kết hợp với việc mở rộng các nguồn xã hội hóa sẽ tạo ra một nền tảng tài chính vững chắc cho các hoạt động phúc lợi xã hội.

4.2. Minh bạch hóa quy trình chi trả cho đối tượng bảo trợ xã hội

Quy trình chi trả trợ cấp cần được cải tiến theo hướng đơn giản, thuận tiện và kịp thời. Luận văn gợi ý việc xem xét chuyển đổi phương thức chi trả từ thủ công sang các dịch vụ chi trả chuyên nghiệp (như qua bưu điện) hoặc ứng dụng công nghệ thanh toán không dùng tiền mặt ở những nơi có điều kiện. Danh sách chi trả, mức hưởng của từng đối tượng bảo trợ xã hội cần được niêm yết công khai tại UBND xã và nhà văn hóa thôn. Việc minh bạch hóa toàn bộ quy trình từ khâu xét duyệt đến chi trả tận tay người dân sẽ giúp hạn chế tối đa sai sót và tiêu cực, đảm bảo tiền trợ cấp của nhà nước đến đúng người, đúng lúc.

V. Hướng dẫn tăng cường thanh tra giám sát công tác BTXH

Thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo là những công cụ quan trọng để đảm bảo quản lý công về bảo trợ xã hội đi vào nề nếp và thực sự hiệu quả. Luận văn nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường hoạt động này một cách toàn diện và thường xuyên. Việc thanh tra không chỉ nhằm mục đích phát hiện và xử lý sai phạm mà quan trọng hơn là để phòng ngừa, chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót trong quá trình thực thi chính sách. Một mô hình quản lý nhà nước hiệu quả phải có cơ chế giám sát chặt chẽ, từ giám sát nội bộ của các cơ quan quản lý, giám sát của các cơ quan dân cử, đến giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và chính người dân. Khi hoạt động giám sát được thực hiện tốt, kỷ cương, kỷ luật sẽ được nâng cao, góp phần làm lành mạnh hóa môi trường thực thi chính sách an sinh xã hội huyện Chư Păh.

5.1. Xây dựng kế hoạch thanh tra kiểm tra định kỳ và đột xuất

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện cần chủ trì, phối hợp với Thanh tra huyện xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm một cách bài bản, có trọng tâm, trọng điểm. Nội dung kiểm tra cần toàn diện, bao gồm cả việc rà soát hồ sơ, quy trình xét duyệt, quản lý tài chính và việc chi trả trợ cấp tại cấp xã. Bên cạnh các cuộc kiểm tra định kỳ, cần tăng cường thanh tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn thư phản ánh của người dân. Kết quả thanh tra phải được công bố công khai và các sai phạm (nếu có) phải được xử lý nghiêm minh, dứt điểm.

5.2. Nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại tố cáo về phúc lợi xã hội

Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến phúc lợi xã hội phải được thực hiện nhanh chóng, khách quan và đúng pháp luật. Cần thiết lập các kênh tiếp nhận thông tin phản ánh đa dạng cho người dân (hòm thư góp ý, đường dây nóng, tiếp công dân định kỳ). Mỗi đơn thư phải được phân loại, xử lý theo đúng thẩm quyền và có văn bản trả lời công dân rõ ràng. Việc giải quyết dứt điểm các khiếu nại không chỉ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đối tượng bảo trợ xã hội mà còn giúp củng cố lòng tin của nhân dân vào sự công minh của các cơ quan nhà nước.

VI. Định hướng tương lai cho an sinh xã hội huyện Chư Păh 2025

Trên cơ sở phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp, luận văn vạch ra định hướng phát triển cho công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai đến năm 2025. Tầm nhìn là xây dựng một hệ thống an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt và bền vững, có khả năng ứng phó hiệu quả với các rủi ro kinh tế - xã hội. Mục tiêu không chỉ dừng lại ở việc trợ cấp cho các đối tượng yếu thế, mà còn hướng tới việc tạo cơ hội để họ vươn lên, hòa nhập cộng đồng và tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội huyện Chư Păh. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, cần có sự nỗ lực đồng bộ từ cấp huyện, sự hỗ trợ từ cấp tỉnh và trung ương, và quan trọng nhất là sự thay đổi trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị và người dân, hướng tới mục tiêu cuối cùng là giảm nghèo bền vững.

6.1. Kiến nghị chính sách với UBND tỉnh và Sở LĐ TB XH Gia Lai

Luận văn đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với cấp trên. Đối với UBND tỉnh Gia Lai, cần xem xét nâng mức chuẩn trợ cấp xã hội cho phù hợp với tình hình giá cả sinh hoạt thực tế. Đối với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Gia Lai, cần tăng cường tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu cho cán bộ cấp huyện, xã; đồng thời, sớm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý đối tượng BTXH thống nhất trên toàn tỉnh để tạo thuận lợi cho công tác quản lý và hoạch định chính sách. Sự hỗ trợ và chỉ đạo kịp thời từ cấp tỉnh là yếu tố then chốt để công tác hoàn thiện chính sách bảo trợ xã hội tại Chư Păh đạt được kết quả như mong đợi.

6.2. Hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững và phát triển toàn diện

Cuối cùng, mọi giải pháp về BTXH đều phải gắn liền với mục tiêu lớn hơn là giảm nghèo bền vững. Cần kết hợp các chính sách trợ giúp xã hội với các chương trình hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm. Thay vì chỉ "cho con cá", cần "dạy cách câu cá", giúp những người còn khả năng lao động có thể tự lực vươn lên. Công tác xã hội tại Chư Păh cần chuyển đổi từ mô hình trợ cấp đơn thuần sang mô hình phát triển, trao quyền. Đây là con đường đúng đắn để đảm bảo an sinh xã hội huyện Chư Păh phát triển một cách bền vững, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, tiến bộ và không ai bị bỏ lại phía sau.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện chư păh tỉnh gia lai

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIEN QUAN DEN CÔNG TAC QUAN LY NHA NƯỚC VÈ BẢO TRỢ XÃ HỘI 1. KHÁI QUÁT VỀ BẢO TRO XA HOI VA QUAN LY VE BAO TRO XA HOL 1. Khái niệm, đặc điểm bảo trợ xã hội 4. Khéi niệm bảo trợ xã hội “Theo Ngân hàng thế giới (2000), bảo trợ xã hội là những biện pháp, công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ứng phó và kiềm chế được những nguy cơ có tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những ấp bênh về thu nhập [14].

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (1999), bảo trợ xã hội là việc cung cấp. phúc lợi cho các hộ gia đình va cá nhân thông qua cơ chế nhà nước hoặc tập thể, cộng đồng nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp [12], “heo Bộ Lao động Thương bình và Xã hội (1999), bảo trợ xã hội là "hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và n pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yêu thể hoặc gặp bắt hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hoà nhập với cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm én định và công bằng xã hội” [9]. Theo Lê Bạch Dương và cộng sự (2015), bảo trợ xã hội ở Việt Nam được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, bảo trợ xã hội là hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng.

nhằm mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh. 12 tế, xã hội làm cho họ suy giảm hoặc mắt nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, tuổi giả,. rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng thông qua hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp đặc biệt; theo nghĩa hẹp thì bảo trợ xã hội là hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp của nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp, bảo vệ các đối tượng yếu thế trong xã hội như người già, trẻ em, người tàn tật, nạn nhân thiên tai, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. n định cuộc sống và hòa nhập với cộng đồng [5], Như vậy, có thể hiểu bảo trợ xã hội là hệ thống các biên pháp, hoạt động trợ giúp bảo đảm của Nhà nước và xã hội đối với các đối tượng bảo trợ.

xã hội, những người bị thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bắt hạnh trong cuộc sống. nhằm giúp họ giảm bớt phần nào những khó khăn trước mắt và lâu dài trong. Đặc điểm của bảo trợ xã hội Bao tro xã hội thẻ hiện các chính sách, chế độ của Nhà nước và hoạt động của cộng đồng với mục đích trợ giúp, hỗ trợ những đối tượng yếu thế trong xã hội nên có một số đặc điểm sau [4] - Bảo trợ xã hội mang tính nhân văn. Đó là hoạt động trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng.

giúp đỡ nhau vượt qua khó khi ~ Bảo trợ xã hội là hoạt động của cả chính quyền và cộng đồng xã hội Bảo trợ xã hội vừa là chủ trương, chính sách của Nhà nước vừa là hoạt động của cộng đồng xã hội để góp phin chia sẻ những khó khăn đối với những người yếu thế trong xã hội, mọi người trong xã hội đều có quyền thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho những người yếu thế trong xã hội để mọi người đều được chung tay thực hiện các hoạt động bảo trợ xã hội 13 - Bảo trợ xã hội là một hoạt động phi lợi nhuận, mang tính cộng đồng lớn. Hoạt động bảo trợ xã hội của chính quyền lẫn cộng đồng xã hội đều không vì mục tiêu lợi nhuận mà là hình thức hỗ trợ, trợ giúp cho các đối tượng yếu thể trong xã hội. Ý nghĩa của bảo trợ xã hội Chính sách ASXH nói chung và bảo trợ xã hội nói riêng có ý nghĩa to lớn về mặt xã hội, đặc biệt đối với những người yếu thế trong xã hội. Nhờ có bảo trợ xã hội, những người yếu thể trong xã hội như trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ, người khuyết tật, người cao tuổi.

đều được bảo vệ. Ý nghĩa của bảo trợ xã hội cụ thể như sau: ~ Bảo trợ xã hội là cộng cụ để phân phối tiền bạc, của cải vật cl giúp đỡ các đối tượng yếu thế, bắt hạnh trong xã hội như người cao tuổi, trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ, ngưi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người khuyết tật. Nhờ có những trợ giúp kịp thời, phân hóa giảu nghèo ngày cảng được rút ngắn, đời sông của các thành phần dân cư dần được cải thiện. Các đối tượng yếu thể, bắt hạnh trong xã hội có cơ hội tồn tại, vượt qua khó khăn trong cuộc sống để có mức sống tốt hơn.

- Bảo trợ xã hội có ý nghĩa to lớn về chính trị, xã hội, thể hiện thái độ, quan điểm của Đảng, Nhà nước với những người yếu thể trong xã hội hay. những người gặp khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, từ đó góp phần ổn định xã hội, giảm sự bắt ôn trong đời sống của người dân, giảm bắt ôn vì chính trị bởi Nhà nước luôn quan tâm đến đời sống của người dân, đảm bảo mọi người được hưởng sự công bằng, mọi người đều có cơm ăn, áo mặc, ấm no [3], ~ Bảo trợ xã hội là một chính sách, định chế quan trọng trong hệ thống. pháp luật về ASXH, góp phần điều chỉnh sự phân phối vật chất trong xã hội, tạo ra sự trợ giúp đối với các đối tượng kém may mắn, yếu thể, bắt hạnh trong. 14 xã hội, thể hiện tỉnh than dé cao tính nhân văn, quyển con người của pháp luật Việt Nam [1] 1.

Khái niệm và vai trò của quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội & Khái niệm quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội Theo Nguyễn Ngọc Hiến (2003), quản lý nhà nước là sự tác động của quyền lực Nhà nước đến các chủ thể trong xã hội: Công dân và tổ chức, thé nhân hay pháp nhân, công pháp hay tư pháp (công quyền), mang đặc trưng cưỡng bức kết hợp với thuyết phục, giáo dục [1]. Theo Nguyễn Thị Kim Uyên (2011), quản lý nhà nước là hoạt đông thực thì quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự én định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cằm. quyền theo đuổi [19], Theo Nguyễn Hữu Hải (2017), quản lý nhà nước là một dang quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật dé điều chỉnh hành vĩ của cá nhân, tổ chức trên tắt cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, đảm. bảo sự ôn định và phát triển của toàn xã hội [8|.

Nhu vay, quan lý nhà nước vẻ hoạt động bảo trợ xã hội là việc sử dụng các chủ trương, chính sách, quy định pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền để điều chinh hành vi của các chủ thẻ (tổ chức, cá nhân) tham gia vào hoạt động bảo trợ xã hội của Nhà nước nhằm đảm bảo sự ổn định, phát triển xã hội b. Vai trồ của quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội ~ Quản lý nhà nước giúp hoạt động bảo trợ xã hội được thực hiện nghiêm túc. Công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội mang tính quyền lực của Nhà nước nên bằng cách thực hiện quản lý kết hợp với sử dụng các quy. 15 định có tính quyền lực đảm bảo hoạt động bảo trợ xã hội được thực hiện nghiêm túc [6] ~ Quản lý nhà nước về hoạt động bảo trợ xã hội là một cách giúp thể hiện hoạt động bảo trợ xã hội là một chủ trương, chính sách lớn của Đăng và Nhà nước.

Hoạt động quản lý nhà nước thể hiện tính quyền lực do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện nên khi hoạt động bảo trợ xã hội được quản lý bởi các cơ quan Nhà nước chứng tỏ hoạt động bảo trợ xã hội là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. NỘI DUNG QUẦN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ BẢO TRỢ XÃ HỌI. Ban hành, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo trợ xã hội a. Ban hành các chink sách pháp luật về bảo trợ xã hội Các cơ quan nhà nước được giao thẩm quyển thực hiện việc quản lý nhà nước về hoạt động bảo trợ xã hội bằng công cụ là các quy định pháp luật, chính sách liên quan đến hoạt động bảo trợ xã hội.

Tại các địa phương, việc cquản lý nhà nước hoạt động bảo trợ xã hội được thực hiện bằng cách áp dung các quy định của pháp luật, cơ chế, chính sách của cấp trên và tự xây dựng các chính sách trong phạm vỉ thẩm quyền để thực hiện. 'Các quy định của pháp luật, cơ chế, chính sách của cắp trên thye chat là sự cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhả nước về bảo trợ xã hội dé tao hành lang pháp lý cho các địa phương triển khai trong thực tế, Đây à hành lang pháp lý cho việc cụ thể hóa c ¢ chủ trương, chính sách của Bang và Nhà nước để thực hiện [10]. Việc cụ thể hóa nảy phải đảm bảo phù hợp với đặc thù, đặc điểm riêng có của từng địa phương. Một số tiêu chí thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả của công tác "ban hành các chính sách pháp luật về bảo trợ xã hội đó là [13]: 16 inh kip thoi: Các văn bản pháp luật phải được ban hành kịp thời với chủ trương của Đảng, với tình hình thực tế của địa phương và địa phương để đảm bảo mọi chủ trương của Đảng đều được ban hành theo đúng chỉ đạo của "Đăng theo từng thời điểm.

~ Phù hợp với mục tiêu của chính sách: Nội dung văn bản được ban hành phải phù hợp, đáp ứng đúng mục tiêu của chính sách bảo trợ xã hội. ~ Dễ hiểu, khả thi: Nội dung văn bản khi được ban hành phải dễ hiểu, khả thi, có thể triển khai được tại các địa phương hay cơ quan cấp dưới. Có dễ hiểu, có áp dụng được, hiệu quả áp dụng các văn bản này mới có hiệu quả. ~ Đảm bảo tính nhất quán: Các văn bản về chính sách bảo trợ xã hội phải đảm bảo nhất quán vẻ nội dung các chính sách được triển khai trong thực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ