Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với quỹ m đau, thai sản Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với quỹ ốm đau, thai sản tại Bảo hiểm xã hội thành phố Kon Tum Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước đối với quỳ ốm đau, thai sản tại BHXH thành phố Kon Tum. 10 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY NHA NUOC DOI VOI QUY OM DAU, THAI SAN 1. QUY BAO HIEM OM DAU, THAI SAN VA QUAN LY QUY BAO HIEM OM DAU, THAI SAN 1. Chế độ bảo hiểm ốm đau, thai sản a.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò $* Khái niệm của chế độ ốm đau Theo quy định của Luật BHXH năm 2014, Bảo hiểm xã hội bắt buộc có 05 chế độ sau đây: (a) Óm đau; b) Thai sản; c) Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; d) Hưu trí; đ) Tử tuất. Như vay, Om dau, thai san 1a 02 chế độ đầu tiên của BHXH. Về mặt khái niệm, “Chế độ ốm đau là một chế độ BHXH nhằm đảm bảo thu nhập cho người lao động khi tham gia BHXH tạm thời phải gián đoạn công việc do phải nghỉ ôm đau, tai nạn, chăm sóc con theo quy định ctia phap ludt" [2]. Bảo hiểm ốm đau (BHÔĐ) là một chế độ rất quan trọng không chỉ đối với người lao động và gia đình họ mà còn đối với người sử dụng lao động, nhà nước và xã hội.
với người lao động, BHÔĐ là sự trợ giúp ngắn hạn hỗ trợ người lao động và thành viên gia đình người lao động khi họ bị gián đoạn về thu nhập. Đây là sự bù đắp giúp người lao động có khả năng phục hồi sức khỏe, duy trì cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động. BHOD còn là cơ sở pháp lý động viên người lao động điều trị hiệu quả và khuyến khích người lao động trong quá trình thực hiện công việc của mình. Đối với người sử dụng lao động và nhà nước, chế độ 6m đau phản ánh trách nhiệm của nhà nước và người sử dụng lao động quan tâm đến nhân thân, 11 đời sống người lao động.
Điều này giúp người lao động yên tâm trong thời gian điều trị bệnh ôn định thu nhập, ồn định cuộc sống. Đây cũng là yếu tố góp phần ôn định quan hệ lao động hài hòa, ổn định hạn chế các tranh chấp, bat đồng xảy ra, tạo sự ôn định cho nên kinh tế xã hội của đất nước. Khái niệm của chế độ thai sản. +* Khái niệm của chế độ thai sản “Chế độ thai sản là một chế độ BHXH nhằm đảm bảo thu nhập và sức khỏe cho người lao động (khi tham gia BHXH) là nữ nói riêng khi mang thai, sinh con và cho người lao động nói chung khi nuôi, nhận nuôi con sơ sinh theo quy định của pháp luật ' [2] Chế độ bảo hiểm thai sản (BHTS) là một chế độ rất quan trọng không chỉ đối với người lao động và gia đình họ mà còn đối với người sử dụng lao động, nhà nước và xã hội.
Đối với người lao động, BHÔĐ và BHTS (gọi tắt là bảo hiểm ốn đau, thai sản: BH ÔĐTS) là sự trợ giúp ngắn hạn hỗ trợ người lao động và thành viên gia đình người lao động khi họ bị gián đoạn về thu nhập. Đây là sự bù dap giúp người lao động có khả năng phục hồi sức khỏe, duy trì cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động. BH ÔÐTS còn là cơ sở pháp lý động viên người lao động điều trị hiệu quả, và an tâm trong thời gian ốm đau, thai sản, khuyến khích người lao động trong quá trình thực hiện công việc của mình. Đối với người sử dụng lao động và nhà nước, chế độ BH ÔĐTS phản ánh trách nhiệm của nhà nước và người sử dụng lao động quan tâm đến nhân thân, đời sống người lao động.
Điều này giúp người lao động yên tâm trong thời gian điều trị bệnh, thai sản ôn định thu nhập, định cuộc sống. Đây cũng là yếu tố góp phải ổn định quan hệ lao động hài hòa, ôn định hạn chế các tranh chấp, bắt đồng xảy ra, tạo sự ôn định cho nền kinh tế xã hội của đắt nước. Đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm ốm đau, thai sản s#Đối tượng hưởng chế độ ốm đau + Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức. + Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên theo quy định của pháp luật về lao động kể cả cán bộ quản lý, người lao động làm việc trong các hợp tác xã.
Liên hiệp hợp tác xã hưởng tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên. + Người lao động là công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang. + Người lao động đã tham gia BHXH bắt buộc mà chưa nhận BHXH một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp. đồng với doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu, công trình ở nước ngoài.
$* Đối tượng hưởng chế độ thai sản Ở Việt Nam, đối tượng hưởng chế độ thai sản được quy định theo khoản 2 Điều 2§ Luật Bảo hiểm xã hội được quy định như sau: + Lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. Trước đây, pháp luật quy định lao động nữ chỉ được hưởng thai sản cho hai con và một lần sinh thường chỉ được nghỉ tối đa 4 tháng nhưng hiện nay, pháp luật không hạn chế số lần sinh con mà người lao động vẫn được hưởng chế độ thai sản. + Trường hợp người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này nghỉ việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 6 tháng tuổi 13 thì vẫn được hưởng chế độ thai sản. theo quy định tại các Điều 31, 32, 34 và khoản 1 Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội.
+ Lao động nữ bị sảy thai, đẻ thai chết lưu. + Lao động nữ sau khi sinh con con chết. + Lao động nữ đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản. + Người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội và có xác nhận của tổ chức cơ sở y tế có thẩm quyền.
Điều kiện hưởng chế độ ắm đau, thai sản Không phải đối tượng bị ốm đau, thai sản nào cũng được hưởng chế độ ốm đau, thai sản. Chỉ có những đối tượng thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật về chế độ ốm đau, thai sản mới được hưởng. Cụ thể: đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thâm quyền theo quy định của Bộ Y tế. ~ Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do.
say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục do Chính phủ quy định thì không được hưởng chế độ ốm đau. - Bị đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế (Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác thì không được hưởng chế độ ốm đau). ~ Có con dưới 7 tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con và có xác nhận của cơ sở y tế ~ Người lao động đóng BHXH bắt buộc khi bị ốm sẽ được hưởng chế độ ốm đau. 14 Chế độ thai sản - Lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
Trước đây, pháp luật quy định lao động nữ chỉ được hưởng thai sản cho hai con nhưng hiện nay, pháp luật không hạn chế số lần sinh con mà người lao động vẫn được hưởng chế độ thai sản. - Trường hợp người lao động đủ điều kiện theo quy định trên nghỉ việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 6 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản. theo quy định tại các Điều 34, 35, 36 và khoản 1 Điều 37 Luật Bảo hiểm xã hội. + Lao động nữ bị sảy thai, đẻ thai chết lưu.
+ Lao động nữ sau khi sinh con con chết. + Lao động nữ đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản. + Người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội và có xác nhận của tổ chức cơ sở y tế có thâm quyền 1. Quỹ bảo hiểm ốm đau, thai sản Theo quy định tại Điều 3 của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 thì: “Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước ”.
Quy bảo hiểm óm đau thai sản (sau đây gọi tắt là Quỹ ốm đau, thai sản) là một phần của Quỹ BHXH, nó được hình thành do đóng góp của người lao động, nó là “quÿ rài chính độc lập với Ngân sách Nhà nước, là một quỹ thành phân trong quỹ BHXH được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước. "[32]- Quy ODTS duge quản lý thống nhất ở BHXH Việt Nam, vi vay tat ca 15 sự đóng góp của người tham gia BH ÔĐTS đều phải tiến hành chuyển về BHXH Việt Nam đề hình thành quỹ ÔĐTS tập trung. Quản lý quỹ ốm đau, thai sản Quản lý (quản trị) là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ồn định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định. Theo Harold Koontz và Cyril O'Donnell: “Quán ly là một nghệ thuật để hoàn thành công việc và với mọi người trong các nhóm được tổ chức chính thức.
Đó là một nghệ thuật tạo ra một môi trường trong đó mọi người có thể thực hiện và các cá nhân và có thể hợp tác dé đạt được các mục tiêu của nhóm ”.