CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ GIẢM NGHÈO. KHÁI QUÁT VÈ GIẢM NGHÈO VÀ QUẢN LÝ NHÀ NUOC VE GIAM NGHEO 1. Khái niệm nghèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo đa chiều ở Việt Nam hiện nay. Khái niệm đói nghèo * Quan niệm của thế giới Tại Hội nghị chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế - Xã hội Khu vực Châu.
Á-Thái Bình Dương tổ chức tại BangKok (tháng 9/1993), các nước trong khu vực thống nhất rằng “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những như cầu cơ bản của con người mà như cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”. Theo khái niệm này thì tiêu chí và chuẩn mực đánh giá về nghèo đói còn để ngỏ về định lượng hay nói cách khác tiêu chuẩn về đánh giá nghèo đói ở các quốc gia và các vùng lãnh thổ là khác nhau ” Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển xã hội tổ chức tại tại 'Copenhagen (Đan Mạch) (1995), đã đưa ra khái niệm: “ Người nghèo là tắt cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la Mỹ (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua với những sản phẩm thiết yếu để tôn tại”. Khác với khái niệm trên, khái niệm này đã có tính định lượng nhưng không tính đến sự thay đôi về thời gian của vấn đề nghèo và cũng chỉ mới đề cập nghèo đơn chiều (về thu nhập) [18] Trong “Báo cáo về tình hình phát triển thế gidi-Tan công nghèo đói” năm 2000, WB thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về nghèo đi 13 “Đối nghèo “không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo một khái niệm thích hợp vẻ thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn cả về giáo dục và y tế". Báo cáo đã mở rộng quan niệm về nghèo đói khi tính đến cá nguy cơ dễ bị tôn thương, dễ gặp rủi ro của người nghèo.
Báo cáo nêu bật “nghèo có nghĩa là không có nhà cửa, quân áo, 6m đau và không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường”. Báo cáo chỉ ra “người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những biểu hiện bắt lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xứ tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có ống nói trong các thể chế đó” (15). Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội.
Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trằng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa sự không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [12] * Quan niệm của Việt Nam “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phân các như câu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đông của từng vùng, từng khu vực xét trên mọi phương diện. Trong hoàn cảnh nghèo thì người nghèo và hộ nghèo cũng chỉ vật lộn với những mưu sinh hàng ngày và kinh tế vật chất, biểu hiện trực tiếp nhất ở bữa ăn.
Họ không thể vươn tới các như câu vẻ văn hóa, tỉnh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm bớt tới mức tồi thiểu gần nhất, gần nhu không có”. 14 Một cách hiểu khác: “Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia”. Chuẩn nghèo tại Việt Nam Chuẩn nghèo là một tiêu chuẩn để đo lường mức độ nghèo của các hộ dân, là căn cứ cho các hỗ trợ chính sách cho các hộ đó.
Chuẩn nghèo ở mỗi quốc gia là khác nhau và sẽ thay đổi theo tùy giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội. Đối với Việt Nam thì chuẩn nghèo vẫn tính theo bình quân thu nhập đầu người là chỉ tiêu chính. + Thu nhập bình quân đâầu người ở việt Nam: là chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng phản ánh “mức thu nhập và cơ cấu thu nhập của các tầng lớp dân cư”. Chỉ tiêu này dùng để đánh giá mức sống, phân hóa giàu nghèo, tính tỷ lệ nghèo làm cơ sở cho hoạch định chính sách nhằm nâng cao mức sống của nhân dân, xóa đói, giảm nghèo.
Dé tinh được chỉ tiêu này, trước hết phải tính được thu nhập của hộ dân cư. Thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị của hiện vật sau khi trừ chỉ phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong 1 thời kỳ nhất định (thường là 1 năm). Thu nhập của hộ bao gồm: (1) Thu từ tiền công, tiền lương; (2) Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (sau khi đã trừ đi chỉ phí sản xuất và thuế sản xuất); (3) Thu tir san xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp và thủy sản (sau khi đã trừ đi chỉ phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) Thu khác được tính vào thu nhập như do biếu, mừng, lãi tiết kiệm. Các khoản thu không được tính vào thu nhập gồm rút tiền gửi tiết kiệm, thu nợ, thu bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn 15 nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng (Tổng cục Thống kê công bé theo quy định) được tính bằng cách chia tổng số thu nhập của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng.
“Tổng thu nhập của hộ dân cư trong năm 'Thu nhập bình quân (tính bằng VND) đầu người Itháng = 12 x (Số nhân khẩu bình quân năm của hộ) (VNĐ/người ) Muốn tính Thu nhập bình quân đầu người 1 năm ta lấy thu nhập bình quân đầu người 1 tháng nhân với 12 tháng. Khái niệm về giảm nghèo. Giảm nghèo: Có thể hiểu giảm nghèo là một trong những biện pháp mà nhà nước sử dụng, đó là một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các quyết định, quy định, các biện pháp được ban hành bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, được cụ thể hóa trong các mục tiêu, kế hoạch, chương trình, dự án.Nhằm tác động vào các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo hay vùng nghèo với mục đích cuối cùng là tạo những điều kiện để những người thuộc diện nghèo tăng thêm thu nhập, nâng cao điều kiện sống, hội nhập và vươn lên thoát khỏi nghèo. Khái niệm nghèo đa chủ Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội.
Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đắt đai để trằng trọt hoặc không có nghé nghiệp để nuôi sống bản thân, không 16 được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyển, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh” [12]. Vấn dé nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bắt hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong k iệm nghèo đa chiều.
Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2012: 5).Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (Oxfam và ActionAid, 2010:11). Chỉ nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y- , giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập. Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là: “sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các như câu cơ bản của con người. Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các như cầu cơ bản trong cuộc sống” Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam tir nim 2013.
Do lường nghèo đa chiều cần được áp dụng đề dựng nên một bức tranh đầy đủ và toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở nước ta. Hiện nay Bộ LĐ-TB & XH đang đề xuất xây dựng bộ tiêu chí nghèo đa chiều, đồng thời rà soát cơ chế, chính sách nhằm thực hiện giảm nghèo theo hướng đa chiều ở Việt Nam. + Nghèo đa chiều: Nghèo đói không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống, hoặc 17 thiếu các điều kiện, sinh hoạt khác, mà nghèo đói còn được gây ra bởi các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng, tiếp cận với các nguồn lực, thông tin và dịch vụ. Như vậy nghèo đói không đơn thuần là một cá thể mà nó bao sống gồm các yếu tố kiềm hãm cá thể đó không tiếp cận được đến các nguồn lực hoặc không biết và không thể tìm ra giải pháp cho bản thân để thoát ra khỏi tình trạng hiện có.
+ Giảm nghèo bên vững: là tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội. Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để đảm bảo giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn.